Đà phục hồi của Trung Quốc đang chững lại

10:08 | 14/07/2021

Sự phục hồi theo hình chữ V của nền kinh tế Trung Quốc từ đại dịch Covid-19 đang có chiều hướng chậm lại, và gửi thông điệp cảnh báo đến phần còn lại của thế giới về khả năng phục hồi toàn cầu.

Triển vọng kinh tế Trung Quốc đã bị thay đổi và có một dấu hiệu đưa ra cảnh báo vào ngày 8/7 vừa qua, khi Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) cắt giảm lượng tiền mặt. Đại diện PBoC cho biết, sự kiện này không phải là một động thái kích thích mới, nhưng phạm vi rộng của việc cắt giảm lên đến 50 điểm cơ bản đối với yêu cầu tỷ lệ dự trữ của hầu hết các ngân hàng đã gây bất ngờ lớn đối với các chuyên gia kinh tế trong nước. Động thái này sẽ giải phóng khoảng 1 nghìn tỷ nhân dân tệ (154 tỷ USD) thanh khoản dài hạn.

Theo một cuộc thăm dò ý kiến của các nhà kinh tế Bloomberg, dữ liệu dự kiến cho thấy tăng trưởng trong quý thứ hai giảm xuống 8% từ mức tăng kỷ lục 18,3% trong quý đầu tiên. Các chỉ số chính về doanh số bán lẻ, sản xuất công nghiệp và đầu tư tài sản cố định đều được đặt ở mức vừa phải. Động thái nhanh chóng của PBoC đối với tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng là một cách để đảm bảo các chỉ số phục hồi diễn ra ổn định và lâu dài.

da phuc hoi cua trung quoc dang chung lai
Ảnh minh họa

Điều tồi tệ nhất của cú sốc đại dịch dường như đang ở phía sau, các nhà hoạch định chính sách giờ đây lại có thể đối mặt với những lo lắng cơ bản trước khi Covid-19 xảy ra: củng cố sự ổn định tài chính và không khuyến khích các công ty gánh quá nhiều nợ. Việc cắt giảm dự trữ cho thấy Trung Quốc có tư tưởng theo hướng ôn hòa chứ không phải “diều hâu”.

Tuy nhiên, hiện nay ở trong nước, doanh số bán lẻ vẫn ở mức thấp mặc dù các chuyên gia kinh tế cho rằng dịch bệnh đã phần nào được kiểm soát. Theo Bloomberg Economics, có khả năng doanh số bán hàng bị chậm lại trong tháng 6 là do tâm lý bị đè nặng bởi các biện pháp kiểm soát nhằm ngăn chặn sự bùng phát lẻ tẻ của vi rút.

Mặc dù, các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đang tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của PBoC, nhưng vẫn không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một sự thay đổi ưu tiên trong cách tiếp cận với các gói hỗ trợ của Chính phủ, vốn được coi là rất có kỷ luật mà các nhà chức trách Trung Quốc đã thực hiện kể từ khi cuộc khủng hoảng bắt đầu. Ông Bruce Pang, Trưởng bộ phận nghiên cứu chiến lược và vĩ mô tại China Renaissance Securities Hong Kong cho biết, việc cắt giảm dự trữ bắt buộc một phần là để “quản lý kỳ vọng” trước dữ liệu kinh tế quý II được công bố trong tuần này.

Bên cạnh đó, chương trình cải cách của Trung Quốc đang bị trì hoãn, thuế quan và các biện pháp hạn chế thương mại khác đang cản trở khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu và các công nghệ tiên tiến. Đồng thời, các biện pháp kích thích nhằm hỗ trợ Covid đã nâng con số nợ công lên mức kỷ lục mới.

Liệu Trung Quốc có thể thực hiện lời hứa là thúc đẩy tăng trưởng với lực lượng lao động ít hơn và liên tục tăng đầu tư không ngừng với công nghệ tiên tiến hơn?

Minh Đức

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.540 22.850 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.570 22.850 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.562 22.862 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.610 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.610 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.565 22.857 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.585 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.600 22.800 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.620 22.800 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.050
61.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.050
61.650
Vàng SJC 5c
61.050
61.670
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900