“Đánh thức” thị trường nội địa

09:11 | 13/05/2022

Một trong những chính sách được mong đợi để kích thích tiêu dùng nội địa là hỗ trợ tiền thuê nhà cho công nhân, người lao động. Khi được hỗ trợ, các đối tượng này sẽ có thêm một khoản thu nhập để chi tiêu, mua sắm hàng hóa thiết yếu và kích thích tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên theo phản ánh từ doanh nghiệp (DN) thì các thủ tục để người lao động được nhận gói hỗ trợ này còn vướng mắc và tới nay vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể.

Mong sớm có hướng dẫn

Theo Quyết định 08/2022/QĐ-TTg ban hành ngày 28/3, có hai nhóm đối tượng được thụ hưởng chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động, gồm người lao động làm việc trong doanh nghiệp tại khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu vực kinh tế trọng điểm; và người lao động quay trở lại thị trường lao động. Để được hưởng mức hỗ trợ này, người lao động phải đáp ứng các điều kiện bắt buộc nhất định.

Cùng với các điều kiện bắt buộc này, người lao động và DN phải cùng phối hợp thực hiện 5 bước theo Quyết định 08. Cụ thể, người lao động viết đơn theo mẫu và xin xác nhận của chủ nhà trọ rồi nộp lại cho DN. Trên cơ sở đơn của lao động, DN rà soát và lập danh sách, niêm yết công khai theo biểu mẫu của Quyết định 08, sau đó gửi cơ quan BHXH để xác nhận cho người lao động đang tham gia BHXH bắt buộc. Sau khi cơ quan BHXH xác nhận, danh sách sẽ được gửi tới UBND cấp quận/huyện, sau đó UBND cấp quận/huyện gửi danh sách trình UBND cấp tỉnh/thành phố thẩm định và ra quyết định chi trả.

danh thuc thi truong noi dia
Việc triển khai các chính sách hỗ trợ cho người lao động còn tạo lực đẩy cho cả nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ hơn

Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Lê Văn Thanh cho biết, cơ quan này đã có văn bản hướng dẫn chi tiết tới các Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tại các địa bàn được hưởng chính sách nhằm chủ động rút gọn thủ tục, giúp người lao động sớm nhận được tiền hỗ trợ. Dự kiến trong khoảng thời gian tối đa là 11 ngày, toàn bộ các thủ tục sẽ được hoàn thiện và người lao động có thể nhận được tiền hỗ trợ.

Tuy nhiên trên thực tế, kể từ khi Quyết định 08 được ban hành cho tới nay đã hơn 1,5 tháng trôi qua, nhiều DN cho biết vẫn chưa được hướng dẫn đầy đủ và cụ thể. Là đơn vị sử dụng nhiều lao động, hiện nay Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) có khoảng 150.000 lao động tại các đơn vị thành viên. Để hưởng ứng chính sách hỗ trợ này, các đơn vị thành viên của Vinatex đang ráo riết triển khai hướng dẫn người lao động và liên hệ với chính quyền địa phương để sớm thực hiện các thủ tục. Bà Lê Thị Hoàng Trang - Chủ tịch Công đoàn, Trưởng phòng Nhân sự Công ty cổ phần Phong Phú cho biết, đến nay chính quyền địa phương và cơ quan BHXH vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể tới DN, khiến người làm công tác nhân sự rất lúng túng về các bước triển khai. Hiện nay công ty mới chỉ phổ biến mẫu đơn cho công nhân để họ lấy xác nhận từ chủ nhà trọ, sau đó nộp lại cho công ty để lập danh sách.

Giám đốc một DN xuất khẩu thuỷ sản chia sẻ trải nghiệm thực tế khi triển khai thủ tục thụ hưởng các gói hỗ trợ trước đây. Theo vị này, mặc dù các thủ tục cũng như đầu mối thực hiện chính sách được Chính phủ chỉ ra rất cụ thể, song càng thực hiện ở các cấp phía dưới thì càng phát sinh thêm thủ tục khác. Vì vậy, DN thường phải chỉnh sửa, bổ sung hồ sơ vài lần mới hoàn thiện.

Từ kinh nghiệm thực tế trong triển khai các gói hỗ trợ trước đây, DN khuyến nghị một số vấn đề cần được cơ quan BHXH và chính quyền địa phương quy định rõ từ sớm, tránh đợi tới khi DN nộp hồ sơ lên mới yêu cầu bổ sung hoặc chỉnh sửa. Chẳng hạn, nếu người lao động thuê trọ nhưng chưa có đăng ký tạm trú thì có được hưởng gói hỗ trợ hay không. Hoặc đối với trường hợp DN gặp khó khăn và đang nợ lương cũng như BHXH, thì cơ quan BHXH có chấp thuận hỗ trợ cho người lao động của DN hay không…

Kỳ vọng tạo thêm lực đẩy cho cả nền kinh tế

Theo ông Lê Tiến Trường - Chủ tịch HĐQT Vinatex, hầu hết các nền kinh tế đang phát triển đều có hai động lực chính là xuất khẩu và thị trường nội địa. Vì vậy để tìm bàn đạp, tạo sức bật nhanh nhất cho nền kinh tế, cần đánh giá thực trạng, khả năng tiếp nhận các gói kích thích, cũng như tác động lan tỏa của hai động lực này. Có thể thấy trong 4 tháng đầu năm 2022, nếu như xuất khẩu là điểm sáng với mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đạt 16,4%, thì tiêu dùng nội địa vẫn phục hồi rất chậm chạp.

Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, tính chung 4 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng chỉ ước tăng 6,5% so với cùng kỳ, thấp hơn so với mức tăng của 4 tháng đầu năm 2021 là 10%. Nếu loại trừ yếu tố giá, doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thậm chí chỉ tăng 4,3%, thấp hơn đáng kể so với mức 7,2% cùng kỳ năm 2021. Mặc dù Chính phủ đã có nhiều chính sách kích cầu, như giảm thuế GTGT xuống còn 8%, song sức mua trong nước vẫn chưa thể bật tăng trở lại.

Phân tích sâu hơn vào các con số thống kê, có thể thấy người dân tập trung chi tiêu cho các nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày, vì vậy mức tăng chủ yếu đến từ doanh thu lương thực thực phẩm (tăng 13,2%), vật phẩm văn hóa, giáo dục (tăng 11,5%); trong khi các nhu cầu ít cấp bách hơn vẫn đang bị gác lại, như hàng may mặc giảm 3,5%; đồ dùng, trang thiết bị gia đình giảm 4,6%, dịch vụ lưu trú, ăn uống chỉ tăng 5,2% (thấp hơn mức 10,1% cùng kỳ năm 2021)… Nguyên nhân chủ yếu của việc “thắt lưng buộc bụng” trong suốt thời gian dài là thu nhập của người dân chưa hoàn toàn phục hồi sau đại dịch, trong khi giá cả nhiều loại hàng hóa có xu hướng tăng cao theo giá xăng.

Chính vì thế việc “đánh thức” thị trường nội địa chỉ có thể diễn ra khi xu hướng thu nhập của người dân quay trở lại bình thường, mà trước mắt là ở khu vực lao động nhận tiền lương, tiền công, tạo ra vòng thu nhập để đưa vào chi tiêu trên thị trường, từ đó tiếp tục kích hoạt các nhóm ngành thương mại, dịch vụ, du lịch, giao thông vận tải…

TS. Nguyễn Đức Kiên - Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng phân tích, trong điều kiện ngân sách khó khăn như hiện nay, thì việc đưa ra các gói hỗ trợ của Chính phủ phải cân nhắc trên nhiều bề. Mặc dù vậy, Chính phủ đã đánh giá đúng về vai trò quan trọng của thị trường nội địa đối với tăng trưởng kinh tế, vì vậy đã đưa ra chính sách giảm thuế GTGT để kích thích tiêu dùng. Cùng với đó, chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho công nhân, người lao động cũng bắt nguồn từ việc xác định rõ đây là nhóm đối tượng khó khăn nhất trong xã hội, nhưng đồng thời cũng là nhóm có thể kích thích các động lực tăng trưởng khác. Vì vậy, có thể nói việc triển khai các chính sách hỗ trợ cho người lao động không chỉ phục vụ cho chính họ hay cho DN, mà còn tạo lực đẩy cho cả nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ hơn trong thời gian còn lại của năm 2022.

Ngọc Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700