Đề xuất giảm tối đa thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu

19:29 | 14/06/2022

Bộ Tài chính vừa cho biết, trong bối cảnh giá xăng dầu trong và ngoài nước liên tục tăng cao trong thời gian gần đây, Bộ đang phối hợp với các cơ quan nghiên cứu phương án tiếp tục giảm thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu để góp phần kịp thời kiềm chế lạm phát.   

de xuat giam toi da thue bao ve moi truong voi xang dau
Cần sớm có các giải pháp để kiềm chế giá xăng dầu như giảm thuế, phí với xăng dầu: giảm thuế bảo vệ môi trường, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt...

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, Bộ Tài chính đang dự kiến đề xuất trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thẩm quyền giảm tối đa thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu.

Tại kỳ điều hành chiều 13/6, giá xăng dầu trong nước tiếp tục lập đỉnh mới, mức cao nhất từ trước đến nay. Theo đó, xăng E5 tăng thêm 880 đồng/lít, lên mức 31.110 đồng/lít; giá xăng A95 tăng gần 800 đồng/lít, lên mức 32.370 đồng/lít. Giá các mặt hàng dầu tại kỳ điều hành lần này cũng tăng rất cao, 2.490-2.630 đồng/lít. Cụ thể, giá bán đối với mặt hàng dầu diesel lên mức 29.020 đồng/lít, dầu hỏa 27.830 đồng/kg.

Trước đó, ngày 21/4, Bộ Tài chính đã xin ý kiến các bộ, ngành báo cáo Chính phủ về biểu thế xuất nhập khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, trong đó có đề xuất điều chỉnh giảm thuế suất nhập khẩu ưu đãi với xăng từ 20% xuống 12% nhằm đa dạng hoá các nguồn cung xăng dầu.

Từ 1/4 năm nay, thuế bảo vệ môi trường với xăng, dầu cũng đã được điều chỉnh giảm 50% cho đến hết năm. Thuế bảo vệ môi trường theo đó còn 2.000 đồng mỗi lít xăng và 1.000 đồng với dầu diesel, madut, dầu nhờn (chưa VAT)....

Bên cạnh giảm thuế bảo vệ môi trường, tại phiên chất vấn ở Quốc hội mới đây (8/6), đại biểu Quốc hội cũng đặt vấn đề giảm thêm các loại thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế VAT... khi giá xăng dầu liên tiếp lập kỷ lục. Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết sẽ đánh giá tác động để tham mưu Chính phủ, trình Thường vụ Quốc hội, Quốc hội giảm thêm thuế với mặt hàng này.

Tại Việt Nam, bình quân 5 tháng đầu năm 2022, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 2,25% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 1,29% của 5 tháng đầu năm 2021, nhưng thấp hơn mức tăng của 5 tháng đầu năm 2017-2020; lạm phát cơ bản tăng 1,1%. So với tháng trước, CPI tháng 5/2022 tăng 0,38% (khu vực thành thị tăng 0,34%; khu vực nông thôn tăng 0,42%).

TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, cho biết lạm phát bình quân năm tháng đầu năm nay của nền kinh tế tăng 2,25%, thì giá xăng dầu tăng cao gần 50% đã góp vào 1,8 điểm phần trăm; giá gas tăng trên 20%, góp 0,3 điểm phần trăm trong mức lạm phát bình quân chung của nền kinh tế.

Nếu tình hình này vẫn tiếp diễn trong thời gian tới sẽ làm suy giảm tăng trưởng kinh tế, nguy cơ lạm phát tăng cao. Do đó, thời gian qua, rất nhiều chuyên gia kinh tế, doanh nghiệp, người dân đề xuất Chính phủ nên có các giải pháp để kiềm chế giá xăng dầu như giảm thuế, phí với xăng dầu: giảm thuế bảo vệ môi trường, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt.

TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế cho rằng các cơ quan chức năng có thể cân nhắc sử dụng Quỹ bình ổn xăng dầu một cách linh hoạt hơn nữa. Đồng thời cân nhắc giảm một số loại thuế, phí đối với xăng dầu như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xăng động cơ không pha chì. Bên cạnh đó, cân nhắc biện pháp hỗ trợ một số lĩnh vực chịu tác động nặng nề bởi giá xăng dầu tăng mạnh như vận tải.

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700