Đổi mới để phát triển vững mạnh

07:31 | 11/01/2022

Đà Nẵng đã nhận thấy rõ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế là hết sức cần thiết, và phải tái cơ cấu lại theo hướng tập trung đầu tư phát triển các lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, logistics, tài chính, giáo dục và y tế chất lượng cao.

Những mảng màu sáng - tối

Cách đây 25 năm, ngày 1/1/1997, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng chính thức được chia tách thành hai đơn vị hành chính. TP. Đà Nẵng bước vào một chặng đường phát triển mới với tư cách là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, với kỳ vọng sẽ trở thành “đầu tàu” phát triển ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Nhiều năm liền sau đó, Đà Nẵng nổi lên là điểm sáng về phát triển kinh tế ở miền Trung, cũng như của cả nước.

Theo ông Nguyễn Văn Quảng - Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, hiện quy mô và trình độ nền kinh tế của thành phố thuộc nhóm phát triển của Việt Nam. Kinh tế địa phương tăng trưởng tương đối nhanh, bình quân giai đoạn 1997-2021 đạt khoảng 9%/năm. GRDP bình quân đầu người của Đà Nẵng hiện gấp hơn 15 lần so với năm 1997. Các ngành, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có hàm lượng công nghệ cao được chú trọng phát triển. Bên cạnh đó, không gian đô thị được mở rộng hơn so với thời điểm năm 1997...

doi moi de phat trien vung manh
Ngành du lịch, dịch vụ của TP. Đà Nẵng đang gặp nhiều nhiều khó khăn

Tuy nhiên, đến thời điểm này đặc biệt sau khi phải gánh chịu những tác động nặng nề do “cơn bão” mang tên Covid-19, nền kinh tế địa phương đã và đang bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết. Vậy nên, theo nhiều người đã đến lúc thành phố phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, tìm động lực phát triển mới thay vì dựa chủ yếu vào dịch vụ - du lịch như trước đây. Trên thực tế, qua các đợt dịch Covid-19, nền kinh tế địa phương đã bộc lộ một số hạn chế. Trong đó, cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, khi du lịch và dịch vụ chiếm hơn 60%. Năm 2020, lần đầu tiên kể từ khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, kinh tế Đà Nẵng tăng trưởng âm; GRDP chỉ đạt 63.907 tỷ đồng, giảm 7,99% so với năm 2019.

Năm 2021, thành phố đặt mục tiêu GRDP tăng trưởng 6%. Mặc dù, đã có kinh nghiệm ứng phó với đại dịch Covid-19. Song, việc dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, đã “kìm chân” kinh tế phát triển. Hầu hết các chỉ số kinh tế đều không đạt mục tiêu, thậm chí có chỉ tiêu tăng trưởng âm. Đơn cử, năm 2021 giá trị gia tăng khu vực dịch vụ của Đà Nẵng tăng 1,18% so với năm 2020 hoàn toàn nhờ vào tăng trưởng của lĩnh vực thương mại bán lẻ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa Đà Nẵng năm 2021 ước đạt 58.900 tỷ đồng, tăng 4% so với kế hoạch, không đạt mục tiêu tăng 10%. Ngoại trừ thương mại bán lẻ, thì dịch vụ lưu trú, lữ hành và doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đều giảm với mức giảm lần lượt là 43,2% và 7,3%. Giá trị gia tăng khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đều giảm so với năm 2020, với mức giảm tương ứng là 2,08% và 3,29%...

Điểm sáng lớn nhất trong bức tranh kinh tế của Đà Nẵng trong năm qua chính là kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa. Dù ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, với các nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp trong việc đẩy mạnh xuất khẩu đơn hàng tồn trong năm, có kế hoạch sản xuất thích ứng với điều kiện kinh doanh mới và nhu cầu thị trường, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn thành phố vẫn duy trì mức tăng cao. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2021 ước đạt 1.810 triệu USD, tăng 15,4% so với năm 2020; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.397 triệu USD, tăng 12,4%.

Tổng kết năm 2021, GRDP Đà Nẵng ước đạt 63.875 tỷ đồng, giảm nhẹ so với năm 2020. Tuy tăng trưởng dương trong năm (0,18%), nhưng thành phố lại là địa phương có tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong 5 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, bao gồm: Thừa Thiên - Huế tăng 4,36%; Quảng Nam tăng 5,04%; Quảng Ngãi tăng 6,05% và Bình Định tăng 4,11%. Cùng với đó, thu nhập bình quân của người dân Đà Nẵng giảm đáng kể, khi chỉ còn ước đạt 87,9 triệu đồng, giảm hơn 9 triệu đồng so với năm 2019...

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Có thể nói, bức tranh kinh tế của thành phố bên bờ sông Hàn trong 2 năm vừa qua khá ảm đạm. Trong khi, theo Nghị quyết 43 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP. Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn 2045, đặt mục tiêu giai đoạn 2021 - 2030, GRDP thành phố tăng trưởng trung bình 12%/năm. Trước những kết quả phát triển kinh tế - xã hội không lạc quan trong 2 năm 2021 và 2022, việc TP. Đà Nẵng cần nghiên cứu điều chỉnh cơ cấu kinh tế có tính thích ứng, chống chịu là cần thiết và phù hợp để có thể tăng cơ hội tiến gần mục tiêu tăng trưởng mà Nghị quyết 43 đã đề ra.

Mới đây, tại kỳ họp thứ 4, HĐND TP. Đà Nẵng khóa X, nhiệm kỳ 2021 - 2026, các đại điểu HĐND thành phố đã thảo luận các vấn đề kinh tế - xã hội năm 2021 và các mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2022. Tại kỳ họp, đa số các đại biểu thảo luận và thống nhất về kịch bản phát triển kinh tế - xã hội thành phố năm 2022 theo kịch bản trung bình và chỉ tiêu tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn tăng 6-7%; thu ngân sách nhà nước phấn đấu vượt 3-5% số thu năm 2021.

Đặc biệt, các đại biểu HĐND thành phố đề nghị thành phố nghiên cứu điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp trong tình hình mới, đảm bảo thích ứng với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19. Trong đó, điều chỉnh cơ cấu tỷ trọng nội bộ từng ngành trong từng lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp đảm bảo phù hợp, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế với thiên tai, dịch bệnh và hướng đến sự phát triển bền vững. Đồng thời, tìm kiếm giải pháp cơ cấu lại nền kinh tế Đà Nẵng hài hòa, cân đối, phát huy tiềm năng, sự khác biệt của địa phương. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, sản xuất bền vững, phát triển công nghiệp công nghệ cao và tìm ra động lực mới cho sự phát triển.

Theo bà Trần Thị Thanh Tâm - Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Đà Nẵng, phát triển thương mại dịch vụ vốn là thế mạnh của Đà Nẵng thời gian qua, trong đó tập trung nhất là dịch vụ du lịch. Với cơ cấu kinh tế dịch vụ du lịch chiếm trên 65%, công nghiệp và nông nghiệp cùng chiếm khoảng 22%. Thời gian qua, do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 kinh tế thành phố có những suy giảm đáng kể. Bởi vậy, Đà Nẵng đã nhận thấy rõ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế là hết sức cần thiết, và phải tái cơ cấu lại theo hướng tập trung đầu tư phát triển các lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, logistics, tài chính, giáo dục và y tế chất lượng cao. Bên cạnh đó, thành phố cần đa dạng hơn nữa các hình thức xúc tiến đầu tư vào thành phố. Trong đó, nghiên cứu mở rộng diện tích sản xuất trong Khu Công nghệ cao để thu hút, nâng cao hiệu quả đầu tư; chú trọng thu hút đầu tư đối với các dự án đảm bảo về tiêu chí, tiêu chuẩn công nghệ cao, bảo vệ môi trường...

Một lĩnh vực khác mà TP. Đà Nẵng cũng sẽ tập trung phát triển là công nghệ thông tin - truyền thông (ICT). Năm 2022, thành phố phấn đấu ICT đạt doanh thu tăng 6% so với năm 2021 (1,3 tỷ USD) và kim ngạch xuất khẩu phần mềm đạt 110 triệu USD, tăng 11,7%. Ngoài ra, Đà Nẵng cũng đang tập trung là phát triển dịch vụ logistics gắn liền với cảng biển, cảng hàng không. Trong đó, tập trung đẩy mạnh tiến độ triển khai dự án cảng Liên Chiểu, nâng cấp mở rộng Nhà ga hành khách T1 cảng Hàng không Quốc tế Đà Nẵng...

Cơ cấu lại nền kinh tế rõ ràng là việc không thể dễ dàng làm được trong ngày một ngày hai, mà cần một lộ trình lâu dài. Ông Trần Văn Vũ - Cục trưởng Thống kê Đà Nẵng đã nhìn nhận, khi dịch bệnh được kiểm soát thì du khách sẽ trở lại, qua đó du lịch và dịch vụ của TP. Đà Nẵng dần được phục hồi, nhưng đây là trong ngắn hạn. Việc cơ cấu lại nền kinh tế Đà Nẵng cần tính đến trung hạn và dài hạn, không thể giải quyết trong thời gian ngắn và nhanh chóng “hái ra tiền” như ngành du lịch, dịch vụ những năm trước đây. Thành phố cần xây dựng những đề án cụ thể, có lộ trình và tính toán kỹ lưỡng các ngành, nghề muốn định hướng phát triển...

Bài và ảnh Nghi Lộc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400