Đổi mới để tăng hiệu quả bảo hiểm nông nghiệp

09:18 | 14/06/2022

Trong bối cảnh các mô hình sản xuất nông nghiệp lớn ngày càng được mở rộng tại nhiều địa phương, việc nối lại chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được kỳ vọng sẽ có nhiều cơ hội phát triển mạnh trong các năm tới.

Điểm tựa pháp lý đang rõ dần

Theo ông Đỗ Minh Hoàng - Phó Tổng giám đốc CTCP Bảo hiểm Agribank, với những điểm bổ sung, đổi mới của các văn bản pháp lý về bảo hiểm nông nghiệp (như Nghị định 58/2018/NĐ-CP và Quyết định 13/2022/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) thì hiện nay chính sách hỗ trợ phát triển bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam cơ bản đã bắt đầu có sự đa dạng hóa và chuyên nghiệp hơn.

Chẳng hạn, những năm trước đây đối tượng bảo hiểm chủ yếu vẫn là tài sản hình thành từ vốn vay hoặc tài sản đảm bảo cho các khoản vay, thì hiện nay với việc luật hóa của Nghị định 58/2018/NĐ-CP những quy định về đối tượng bảo hiểm đã khá chi tiết và cởi mở. Các khái niệm như “bảo hiểm chỉ số năng suất”, “bảo hiểm chỉ số thời tiết, chỉ số viễn thám” đã được luật hóa, tạo ra pháp lý cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra sản phẩm mới, bên cạnh những sản phẩm truyền thống là bảo hiểm khoản vay, bảo hiểm cho các rủi ro định danh, định lượng được.

doi moi de tang hieu qua bao hiem nong nghiep
Ảnh minh họa

Ông Lê Đức Thịnh - Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) cho rằng, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp hiện nay đang được ngành nông nghiệp tập trung khá mạnh. Trong đó, ngân sách đầu tư công trung hạn của Bộ NN&PTNT đã được trích ra hàng năm để hỗ trợ các địa phương hình thành các liên kết vùng. “Khi các vùng nguyên liệu nông sản phát triển mạnh theo hướng chuyên nghiệp, việc quản trị rủi ro tập trung sẽ là nhu cầu quan trọng. Khi đó, các doanh nghiệp, hợp tác xã trong các vùng buộc phải tính đến bảo hiểm nông nghiệp như một chi phí đầu tư tất yếu”, ông Thịnh nói.

Về khía cạnh pháp lý, theo ông Thịnh, dù vẫn đang ở giai đoạn “ném đá dò đường”, nhưng hiện nay các văn bản pháp lý cao nhất như Nghị định 58/2018/NĐ-CP, Quyết định 13/2022/QĐ-TTg cơ bản đã bắt đầu cởi mở hơn trong việc quy định chặt chẽ cơ chế phối hợp, quy trình bảo hiểm và tái bảo hiểm đối với bảo hiểm nông nghiệp. Việc mở rộng ghi nhận, phân loại các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp hiện nay đã bắt đầu tạo điều kiện để các doanh nghiệp bảo hiểm mở thêm sản phẩm mới. Trong khi đó, nhiều địa phương đã có động thái trích ngân sách hỗ trợ thêm cho quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp và tập trung vào một số sản phẩm chủ đạo. Những điều này tạo điều kiện để hình thành chuỗi hợp tác trong lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp sản xuất chế biến nông sản, cơ quan khuyến nông, bảo vệ thực vật, hợp tác xã và nông dân”, ông Thịnh nhận định.

Cần phát triển mạnh bảo hiểm thương mại

Mặc dù thừa nhận việc mở rộng địa bàn, mở rộng phạm vi, đối tượng cây trồng vật nuôi được hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp là cần thiết, nhưng ông Nguyễn Khắc Toàn - Chánh Văn phòng Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho rằng chính sách hỗ trợ từ ngân sách cần triển khai rộng khắp hơn. Trong đó, ngoài việc tập trung hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ chính sách cần mở rộng phạm vi cho các hợp tác xã nông nghiệp và các hộ nông dân bình thường. Ngoài ra ngân sách cũng cần hỗ trợ để hình thành hệ thống hạ tầng và hệ thống dữ liệu liên quan đến các sự kiện, đối tượng được bảo hiểm. Từ dữ liệu này các doanh nghiệp bảo hiểm mới có cơ sở để mở rộng sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp thương mại, thuyết phục các doanh nghiệp, trang trại, vùng nguyên liệu tham gia.

Từ góc độ kinh nghiệm quốc tế, TS. Phạm Thị Thanh Bình - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, Việt Nam nên học tập mô hình của Thái Lan trong lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp. Theo đó, hiện nay Thái Lan đã hình thành quỹ bảo hiểm sản phẩm nông nghiệp. Nguồn vốn chính của quỹ này được tài trợ từ ngân sách của Chính phủ, đồng thời kêu gọi hợp tác từ các tập đoàn lớn và các đối tác phát triển nông nghiệp tại Thái Lan. “Trong bối cảnh các doanh nghiệp lớn trong nước đang đầu tư mạnh vào các lĩnh vực thủy sản, cây công nghiệp và lúa gạo, Việt Nam cũng có thể hình thành mô hình quỹ tương tự để mở rộng phát triển bảo hiểm nông nghiệp thương mại”, bà Bình gợi ý.

Đồng quan điểm, ông Lê Đức Thịnh cho rằng, để phát triển mạnh các loại hình bảo hiểm nông nghiệp nếu chỉ trông chờ vào hỗ trợ từ ngân sách thì sẽ rất hạn hẹp. Vì vậy, Bộ Tài chính, Bộ NN&PTNT và các bộ, ngành liên quan cần phối hợp, tạo ra các cơ chế để xã hội hóa đầu tư nền tảng hạ tầng và dữ liệu cho lĩnh vực này. “Chỉ khi nào pháp lý, hạ tầng, dữ liệu được hoàn thiện thì các doanh nghiệp bảo hiểm mới tham gia đông đảo và thị trường bảo hiểm nông nghiệp mới thực sự phát triển mạnh và bền vững”, ông Thịnh nhấn mạnh.

Hỗ trợ bảo hiểm cho 10 loại nông sản chính

Theo Quyết định 13/2022/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, bao gồm: lúa gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, trâu bò, lợn, tôm sú, tôm thẻ, cá tra được trồng trọt và chăn nuôi tại 45 tỉnh, thành trọng điểm trên địa bàn cả nước sẽ được hỗ trợ phí mua bảo hiểm nông nghiệp từ ngân sách. Mức hỗ trợ phí bảo hiểm dao động từ 20%-90% tổng chi phí mua bảo hiểm (tùy theo đối tượng và quy mô của hợp đồng bảo hiểm). Thời gian thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp từ ngày 24/6/2022 đến hết ngày 31/12/2025.

Thạch Bình

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.260 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.264 23.550 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.300
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.800