Đối ngoại ngân hàng - khơi thông nguồn lực, nâng tầm vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới
![]() |
| Thống đốc Lê Minh Hưng tiếp Thống đốc NHTW Thái Lan tháng 8/2019 |
Ngành Ngân hàng hội nhập quốc tế toàn diện và đi vào chiều sâu
Các TCTD Việt Nam ngày càng mở rộng hoạt động tại các quốc gia, vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại với Việt Nam để hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển hoạt động tại các thị trường này. Hoạt động của các TCTD Việt Nam tại thị trường nước ngoài đã bước đầu tạo nguồn thu nhập và lợi nhuận, góp phần tăng cường cơ hội thành công cho các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường các nước, từ đó góp phần củng cố vị thế và tăng khả năng tự chủ của nền kinh tế Việt Nam nói chung.
Là một thành viên kết nạp sau của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), song có thể đánh giá Việt Nam đã mở cửa lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, tài chính tương đối cao so với các nước có trình độ phát triển chung trong khu vực và thế giới. Các tổ chức tài chính nước ngoài được phép hiện diện dưới hầu hết các hình thức pháp lý mà ngân hàng trong nước hiện diện. Trong hơn một thập kỷ từ khi gia nhập WTO, số lượng các TCTD nước ngoài hoạt động trên thị trường Việt Nam đã tăng gần gấp rưỡi: từ 49 (năm 2009) lên 73 (năm 2025), chưa tính đến số lượng rất nhiều các văn phòng đại diện cũng được thành lập.
Trên bình diện đa phương, công tác hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng được triển khai linh hoạt, thích ứng với tình hình mới, tiếp tục mở rộng về phạm vi và nâng cao về chất lượng. Trong 20 Hiệp định thương mại tự do (Hiệp định) mà Việt Nam đã ký kết với các nước và vùng lãnh thổ, các cam kết mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng tài chính đã được đưa vào 17 Hiệp định, đưa quan hệ hợp tác trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý để phát triển đa dạng và bền vững lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam.
Ở quy mô khu vực, NHNN đã thể hiện vai trò tích cực trong tiến trình hợp tác tài chính - tiền tệ khu vực ASEAN và ASEAN +3 qua các hội nghị cấp cao và các cuộc họp nhóm hợp tác về tài chính tiền tệ nhằm mục tiêu xây dựng một Cộng đồng kinh tế ASEAN cùng phát triển. Các hội nghị đã tạo ra diễn đàn để trao đổi về các vấn đề chung của khu vực cũng như tạo cơ hội cho NHTW các nước ASEAN củng cố quan hệ hợp tác nhằm chống lại các cú sốc từ bên ngoài và ngăn ngừa khủng hoảng trong tương lai.
Trong khuôn khổ ASEAN+3, NHNN đã phối hợp với các nước tiếp tục nâng cao tính sẵn sàng của Thỏa thuận đa phương hóa Sáng kiến Chiềng Mai (CMIM) với việc thống nhất nhiều văn kiện, nội dung quan trọng của Thỏa thuận CMIM. CMIM là sáng kiến hợp tác tiền tệ quan trọng của khu vực ASEAN+3, nhằm hỗ trợ khó khăn tạm thời trong cán cân thanh toán của các nước thành viên, góp phần củng cố lòng tin của các nhà đầu tư trên thị trường. Việc nỗ lực hoàn thiện và tăng cường tính hiệu quả của CMIM khẳng định sự ủng hộ, hợp tác của Việt Nam với các đối tác phát triển trong quá trình vận hành và duy trì mạng lưới an toàn tài chính khu vực.
![]() |
| Thống đốc Phạm Đức Ấn tiếp ông Eog-Weon Lee, Chủ tịch Ủy ban Dịch vụ Tài chính Hàn Quốc tháng 4/2026 |
Huy động nguồn lực quốc tế cho tiến trình phát triển và hiện đại hóa đất nước
Có thể nói, một trong những đóng góp nổi bật nhất của đối ngoại ngành Ngân hàng là vai trò đầu mối trong việc duy trì, phát triển và nâng tầm quan hệ hợp tác của Việt Nam với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế lớn như IMF, WB, ADB, AIIB, BIS và một số định chế tài chính quốc tế khác. Với vai trò đại diện cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nhiều tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế, NHNN đã góp phần quan trọng trong việc huy động nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời mở rộng không gian hợp tác chính sách, tiếp cận các chuẩn mực quản trị và tư duy điều hành hiện đại của thế giới.
Kể từ khi nối lại quan hệ tín dụng với WB và ADB vào tháng 10/1993, Việt Nam đã huy động được nguồn lực rất đáng kể từ hai đối tác phát triển này. Tính đến tháng 4/2025, WB đã tài trợ tổng cộng khoảng 26 tỷ USD cho Việt Nam thông qua 180 khoản vay, viện trợ không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật. Các lĩnh vực ưu tiên bao gồm giao thông, y tế, giáo dục, nước sạch và môi trường. ADB đã cung cấp tổng vốn vay và viện trợ lên tới hơn 18 tỷ USD cho Việt Nam kể từ năm 1993. Ngoài nguồn vốn, hai định chế tài chính quốc tế này còn hỗ trợ Việt Nam thông qua tư vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực quản trị, qua đó góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực quốc gia.
Đáng chú ý, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, NHNN đã kịp thời huy động nguồn vốn hỗ trợ Chính phủ ứng phó với các tác động tiêu cực của đại dịch, trong đó có 2 dự án hỗ trợ kỹ thuật của WB và ADB trị giá 11,5 triệu USD và một khoản vay của AIIB đồng tài trợ với IFC cho VPBank trị giá 100 triệu USD. Những kết quả này cho thấy đối ngoại ngân hàng không chỉ mang tính chiến lược dài hạn, mà còn có năng lực phản ứng chính sách kịp thời trong những thời điểm đất nước cần nguồn lực hỗ trợ khẩn cấp.
Trong bối cảnh Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, các nguồn hỗ trợ quốc tế ngày càng mang tính thị trường hơn, điều kiện tiếp cận chặt chẽ hơn và cạnh tranh hơn. Điều này đòi hỏi công tác đối ngoại ngân hàng phải chuyển mạnh từ tư duy “tiếp nhận hỗ trợ” sang tư duy “chủ động thiết kế hợp tác, mở rộng đối tác, tìm kiếm nguồn lực mới, kết nối nhu cầu phát triển của đất nước với xu hướng tài chính toàn cầu”. Việc Việt Nam tham gia sáng kiến thành lập AIIB và trở thành thành viên sáng lập của tổ chức này năm 2015 là một bước đi có ý nghĩa chiến lược, góp phần mở thêm kênh huy động vốn cho phát triển hạ tầng. Tương tự, việc NHNN chính thức trở thành thành viên của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vào tháng 10/2020 là một dấu mốc quan trọng, giúp ngành Ngân hàng Việt Nam có điều kiện tham gia trực tiếp hơn vào các diễn đàn, mạng lưới xây dựng chuẩn mực, nguyên tắc và thông lệ quốc tế về tài chính - ngân hàng. Đây là bước chuyển có ý nghĩa không chỉ về hợp tác, mà còn về vị thế, mức độ tham gia và năng lực hội nhập của ngành ngân hàng Việt Nam.
Nâng cao vị thế, tiếng nói của Việt Nam trong cộng đồng tài chính - tiền tệ khu vực và toàn cầu
Nếu như trước đây đối ngoại ngân hàng chủ yếu gắn với tranh thủ nguồn lực, thì ngày nay một yêu cầu ngày càng rõ hơn là phải góp phần nâng cao sự hiện diện, vị thế và tiếng nói của Việt Nam trong các thể chế tài chính - tiền tệ quốc tế. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, các vấn đề an ninh tài chính, an ninh kinh tế, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, công nghệ tài chính, thanh toán xuyên biên giới, tiêu chuẩn ESG… đang ngày càng trở thành các nội dung trọng yếu trong chương trình nghị sự toàn cầu. Điều đó đòi hỏi ngành Ngân hàng Việt Nam không chỉ theo dõi, thích ứng, mà còn phải tham gia chủ động hơn vào quá trình hình thành, định hình các chuẩn mực, nguyên tắc và xu hướng hợp tác mới.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy NHNN đã từng bước khẳng định vai trò tích cực hơn tại các diễn đàn, khuôn khổ và sáng kiến hợp tác khu vực, quốc tế. Việc mở rộng mạng lưới hợp tác, tham gia sâu hơn vào các thiết chế như ASEAN, ASEAN+3, AIIB, BIS và các đối tác tài chính - tiền tệ lớn đã tạo điều kiện để Việt Nam không chỉ tiếp nhận thông tin, kinh nghiệm, mà còn chủ động thể hiện quan điểm, đóng góp sáng kiến, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình trong quá trình hợp tác quốc tế. Đây là bước phát triển rất quan trọng về chất của công tác đối ngoại ngành Ngân hàng trong giai đoạn mới.
NHNN tích cực tăng cường và đẩy mạnh hợp tác với các đối tác ở nhiều khu vực trên thế giới, triển khai nhiều sáng kiến và hoạt động mới, qua đó ngày một tăng cường vị thế cũng như thúc đẩy hợp tác với các NHTW, cơ quan quản lý tiền tệ, ngân hàng các nước. Tính tới nay, tổng số Bản Ghi nhớ/thỏa thuận hợp tác đã ký kết với NHTW các nước là trên 90. Các Bản Ghi nhớ/thỏa thuận hợp tác đã tạo khuôn khổ quan trọng cho sự hợp tác nhiều mặt giữa NHNN với NHTW, cơ quan quản lý tiền tệ ngân hàng các nước trên thế giới... Với các nước trong khu vực, NHNN đã phối hợp đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán bằng mã QR trong giao dịch vãng lai với các nước, hướng tới việc giảm chi phí giao dịch thanh toán, qua đó thúc đẩy hoạt động thương mại, du lịch giữa các nước trong khu vực.
NHNN ưu tiên khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương thông qua các sáng kiến, tổ công tác với các đối tác như Lào, Nga, Trung Quốc...; tích cực huy động hỗ trợ từ các tổ chức tài chính và NHTW các nước như JICA (Nhật Bản), Bộ Tài chính Mỹ, DFATD (Canada), SECO (Thụy Sỹ)… cho việc đẩy mạnh áp dụng các thông lệ tốt nhất trong lĩnh vực phân tích và dự báo chính sách, thanh tra giám sát, phòng chống rửa tiền, xử lý nợ xấu … Không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận và triển khai các chương trình hỗ trợ của các đối tác nước ngoài, NHNN đã bước đầu chú trọng cung cấp hỗ trợ cho các đối tác truyền thống như Lào, Cuba, Campuchia, Myanmar.
Ngoài ra, với tư cách cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, NHNN đã tích cực tham gia vào các diễn đàn, ủy ban hợp tác song phương của Chính phủ, tích cực chỉ đạo và phối hợp với các NHTM nghiên cứu, xây dựng cơ chế để tạo thuận lợi cho hoạt động thanh toán, chuyển tiền, đầu tư nhằm thúc đẩy các hoạt động thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và các nước đối tác, qua đó góp phần phát triển quan hệ hợp tác toàn diện của Việt Nam với các đối tác song phương.
Ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên vươn mình
Trong bối cảnh mới hiện nay, công tác đối ngoại ngành Ngân hàng cần tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc huy động nguồn lực, tri thức, kinh nghiệm quốc tế phục vụ phát triển đất nước. Từ yêu cầu thực tiễn, có thể nhấn mạnh một số định hướng lớn như sau:
Trước hết, cần triển khai hội nhập quốc tế ngành Ngân hàng một cách toàn diện, sâu rộng, hiệu quả hơn, nhưng đồng thời phải gắn chặt với yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường quốc gia và bảo đảm ổn định tài chính, tiền tệ.
Thứ hai, cần chủ động, tích cực hơn trong việc tham gia xây dựng, định hình các thể chế đa phương về tài chính - ngân hàng; tham gia thảo luận, đề xuất, đóng góp vào các chuẩn mực, nguyên tắc và “luật chơi” mới của thời đại. Đây là yêu cầu tất yếu nếu Việt Nam muốn chuyển từ vị thế “tham gia” sang vị thế “đồng kiến tạo” trong một số lĩnh vực phù hợp với lợi ích và năng lực của mình.
Thứ ba, cần tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả vai trò đại diện của Chính phủ tại các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để tranh thủ hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính, tư vấn chính sách và hỗ trợ kỹ thuật thế hệ mới, đặc biệt trong các lĩnh vực ưu tiên.
Thứ tư, cần đẩy mạnh các cơ chế phối hợp, trao đổi với các nước trong khu vực, nhất là ASEAN, về an ninh tài chính, an ninh kinh tế, thanh toán xuyên biên giới, các rủi ro phi truyền thống và những vấn đề mới nổi trong lĩnh vực ngân hàng. Đồng thời, cần tận dụng hiệu quả hơn các FTA và các kênh hợp tác song phương, đa phương để hỗ trợ kết nối tài chính - ngân hàng, mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Thứ năm, cần chủ động đón đầu những xu thế mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, ESG, tài chính toàn diện, công nghệ tài chính, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng…; tăng cường nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, hoàn thiện cơ chế, chính sách trong nước, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo và thúc đẩy dòng vốn vào các lĩnh vực mới, tiềm năng, có sức lan tỏa cao đối với tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ sáu, trong quan hệ với các đối tác lớn và các đối tác quan trọng, công tác đối ngoại ngành Ngân hàng cần tiếp tục được triển khai trên tinh thần linh hoạt, mềm dẻo, hài hòa, khéo léo, bám sát định hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước; đồng thời tăng cường các kênh đối thoại, trao đổi chính sách ở các cấp nhằm kịp thời chia sẻ thông tin, xử lý vướng mắc, xây dựng lòng tin và bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.
Có thể khẳng định rằng, trong chặng đường 75 năm xây dựng và phát triển của ngành Ngân hàng Việt Nam, công tác đối ngoại đã và đang đóng góp ngày càng quan trọng, thực chất và sâu sắc hơn vào quá trình phát triển của Ngành và của đất nước.Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, triển khai hiệu quả Nghị quyết 59 không chỉ là yêu cầu, mà còn là cơ hội để đối ngoại ngành Ngân hàng tạo những bước đột phá mới, đóng góp thiết thực hơn nữa vào xây dựng một hệ thống ngân hàng hiện đại, an toàn, hội nhập, có năng lực cạnh tranh cao; qua đó góp phần phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, nâng cao vị thế Việt Nam trong dòng chảy tài chính toàn cầu.
Tin liên quan
Tin khác
Vẻ vang chặng đường lịch sử 75 năm của ngành Ngân hàng
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Đồng hành cùng sự phát triển của ngành Ngân hàng
NHNN chi nhánh Khu vực 9: Thúc đẩy chuyển đổi số và cải cách hành chính
Cải cách sâu rộng để đảm bảo tăng trưởng cao và chất lượng
Dòng vốn Agribank trong hành trình phát triển của đất nước
Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào: NHNN đã khẳng định năng lực điều hành chính sách tiền tệ
Tạo dựng hệ thống ngân hàng đủ mạnh trong giai đoạn mới
Gia cố sức mạnh mềm xây dựng Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc
Phát triển ngân hàng Việt Nam hiện đại, phụng sự nhân dân




