Dồn lực phát triển kinh tế hợp tác xã

17:14 | 19/10/2021

Từ năm 2013 đến nay, số lượng hợp tác xã (HTX) nông nghiệp tăng nhanh, tuy nhiên chất lượng hoạt động, quy mô thành viên của các HTX vẫn chưa đạt như kỳ vọng.

Sáng 19/10, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội nghị trực tuyến Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và 10 năm thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012 trong lĩnh vực nông nghiệp.

don luc phat trien kinh te hop tac xa

Khó tiêu thụ sản phẩm

Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, triển khai Nghị quyết số 13 trong ngành nông nghiệp đã làm chuyển đổi nhận thức về vai trò, vị trí và tính cấp thiết của việc phát triển HTX trong nông nghiệp, mô hình HTX kiểu mới trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Xây dựng được môi trường thể chế, hệ thống các cơ chế, chính sách phù hợp và đặc thù trong nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định, kinh tế tập thể, HTX là công cụ, giải pháp trụ cột để thực hiện các mục tiêu cơ cấu lại ngành nông nghiệp và phát triển nông, nông thôn.

Sau 20 năm thực hiện Nghị Quyết 13, số lượng HTX nông nghiệp đã tăng lên 12.569. Từ năm 2012 đến nay, trung bình mỗi năm tăng thêm 800 HTX.

Không chỉ tăng nhanh về số lượng mà chất lượng và hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp cũng đã được cải thiện. Tỷ lệ các HTX nông nghiệp được đánh giá xếp loại khá, tốt đã tăng từ 10% năm 2013 lên 33% đến cuối năm 2016 và trên 60% năm 2020.

Chất lượng và hiệu quả hoạt động của HTX còn thể hiện qua việc có 2.297 HTX nông nghiệp đã thành lập doanh nghiệp trong HTX. Cùng với đó còn có 2.200 HTX ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số trong sản xuất, tương ứng bằng 13% và 12% tổng số HTX nông nghiệp cả nước.

Tuy nhiên, theo ông Lê Đức Thịnh, quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết 13 còn chậm, tại nhiều thời gian, thời điểm chưa quyết liệt.

Nghị quyết số 13 đặt ra mục tiêu 10 năm sau (đến năm 2010) là đưa kinh tế tập thể, HTX thoát khỏi những yếu kém. Tuy nhiên đến nay, mục tiêu này mới cơ bản được hoàn thành, chậm 10 năm so với yêu cầu của Nghị quyết.

Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo cho hay, HTX cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn như tỷ lệ sản phẩm của thành viên đạt yêu cầu thị trường chỉ chiếm 40-50% nên việc mua và tiêu thụ hết sản phẩm cho thành viên là một thách thức lớn đối với HTX.

Ngoài ra, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động cũng như kinh doanh như kho, mặt bằng đóng gói hàng... của HTX đang chờ xây dựng nên không thể mua và tiêu thụ được một số lượng lớn sản phẩm đang có của thành viên.

Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam cũng chỉ ra các khó khăn mà HTX đang gặp phải như chi phí logistics của các sản phẩm nông sản Việt Nam chiếm trên 20% GDP, trong khi các nước chỉ từ 9-13% GDP dẫn đến nông sản Việt Nam khó cạnh tranh. Phần lớn nông sản của nông dân phân phối qua thương lái, chợ đầu mối, sản phẩm đi thẳng tới nhà máy chế biến, siêu thị còn hạn chế.

Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng, số lượng HTX nông nghiệp, phi nông nghiệp mới chỉ chiếm 35% tổng số hộ gia đình ở nông thôn, đây là mức thấp so với các nước phát triển. Ở các nước phát triển, gần 100% hộ nông dân tham gia tổ hợp tác, HTX như Hà Lan, Đức, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản... Quy mô sản xuất theo chuỗi tương đối lớn.

HTX phải nâng cao năng lực nội sinh

Trước những thách thức và thời cơ, ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, vấn đề này đòi hỏi các HTX phải nâng cao năng lực nội sinh của mình để chủ động trong kinh tế thị trường và ứng phó với thiên tai, dịch bệnh.

"Quan điểm phát triển của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong thời gian tới là lấy HTX và thành viên của HTX là trung tâm để hỗ trợ chính sách và huy động nguồn lực cộng đồng để HTX tổ chức lại sản xuất trong điều kiện mới", ông Trần Thanh Nam chia sẻ.

Cũng theo ông Nam, HTX phải tổ chức mô hình đa dịch vụ, HTX không chỉ sản xuất nông nghiệp như trồng rau, chăn nuôi… mà HTX nông nghiệp phải cung ứng theo chuỗi giá trị - HTX làm dịch vụ là chính nên cần đa dịch vụ, đa mục tiêu thì mới đảm bảo thu nhập cho các thành viên.

Để HTX đủ sức hoạt động cần tạo cơ chế để họ phát huy nội lực, đó là nguồn nhân lực, tạo ra nguồn vốn từ nội lực, vốn liên doanh liên kết. Các HTX cần thu hút được nhiều thành viên và đảm bảo các dịch vụ cho thành viên thì mới hiệu quả, do đó cần tăng các dịch vụ lên trong thời gian tới.

Theo ông Nguyễn Ngọc Bảo, các chính sách hỗ trợ HTX được lồng ghép vào chương trình mục tiêu quốc gia, chứ chưa có chương trình riêng. Ông Bảo kiến nghị Trung ương ban hành Nghị quyết mới xác định quan điểm "Kinh tế tập thể, HTX phải đóng vai trò chủ lực trong phát triển kinh tế nông thôn, nông dân" đặt trong bối cảnh mới, nhất là giai đoạn sau COVID-19.

Đặc biệt, mục tiêu phát triển kinh tế tập thể, HTX trong thời gian tới là không quan tâm quá lớn đến số lượng HTX, mà tập trung vào số lượng thành viên, huy động đại đa số hầu hết hộ nông dân ở nông thôn tham gia HTX. Liên minh HTX Việt Nam kiến nghị dành nguồn lực đầu tư cho HTX. Chính sách hỗ trợ HTX cần nguồn lực, giải pháp đi kèm, tập trung nguồn lực cho một số đầu mối, hỗ trợ HTX về logistics, đào tạo nhân lực, quản trị, đầu ra.

Theo ông Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiến nghị Chính phủ sắp tới phê duyệt Nghị quyết về phát triển HTX trong lĩnh vực nông nghiệp, tiến tới ban hành Nghị định riêng về phát triển HTX nông nghiệp. Trong đó, Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng một Chương trình Quốc gia về phát triển kinh tế tập thể, HTX trong nông nghiệp nhằm giúp các HTX đẩy mạnh thực hiện liên kết gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản; quản trị chất lượng thương hiệu nông sản...

Hải Yến

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.545 22.775 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.575 22.775 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.565 22.775 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.570 22.770 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.580 22.760 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.580 22.760 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.576 22.788 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.543 22.773 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.580 22.760 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.600 22.760 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.550
60.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.550
60.120
Vàng SJC 5c
59.550
60.270
Vàng nhẫn 9999
51.550
52.250
Vàng nữ trang 9999
51.250
51.950