Chỉ số kinh tế:
Ngày 23/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.635 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.404/26.866 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Dòng vốn ngân hàng góp phần tạo sức bật mới cho đất nước

Hồng Sơn
Hồng Sơn  - 
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội xác định nhiệm vụ xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển các công trình giao thông chiến lược và các trung tâm logistics quy mô lớn gắn với cảng biển, cảng hàng không; đồng thời tăng cường liên kết vùng và hoàn thiện cơ chế điều phối phát triển vùng, qua đó mở rộng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
aa

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, yêu cầu đặt ra không chỉ là đẩy nhanh tiến độ đầu tư mà còn phải bảo đảm chất lượng và tính bền vững của các dự án trọng điểm. Và đặc biệt nguồn lực về vốn đóng vai trò rất quan trọng. Điều đó đòi hỏi cơ chế thu xếp vốn dài hạn hiệu quả, bảo đảm kỷ luật tài chính và tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa khu vực công, khu vực tư và hệ thống ngân hàng trong toàn bộ vòng đời dự án, từ chuẩn bị đầu tư đến khai thác, vận hành.

Trợ lực cho nhiều dự án hạ tầng trọng điểm

Dự án đường Vành đai 4 – Vùng Thủ đô Hà Nội có tổng chiều dài ước tính hơn 113 km, tổng mức đầu tư trên 85.000 tỷ đồng, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông quốc gia. Khi hoàn thành, dự án được kỳ vọng góp phần giảm tải cho khu vực nội đô, tăng cường kết nối các khu đô thị, khu công nghiệp, trung tâm logistics và liên thông với hệ thống cao tốc hướng tâm, qua đó hình thành trục giao thông liên hoàn mang tính “xương sống” cho toàn Thành phố.

Trong cơ cấu tổng thể, Dự án thành phần 3 - đầu tư xây dựng đường cao tốc thuộc Dự án Vành đai 4 Vùng Thủ đô Hà Nội được triển khai theo phương thức hợp tác công - tư (PPP) với tổng mức đầu tư khoảng 56.000 tỷ đồng. Để thu xếp phần vốn do nhà đầu tư huy động, bốn ngân hàng thương mại đã ký hợp đồng tín dụng trị giá 25.453 tỷ đồng, trong đó Agribank tham gia 15.453 tỷ đồng; MB 5.000 tỷ đồng; BIDV 3.000 tỷ đồng và MBV 2.000 tỷ đồng.

Dòng vốn ngân hàng góp phần tạo sức bật mới cho đất nước
Lễ ký kết hợp đồng tín dụng Dự án thành phần 3

Cách thức thu xếp vốn theo mô hình hợp vốn, có ngân hàng đầu mối và các thành viên đồng tài trợ, cho thấy xu hướng gia tăng phối hợp giữa các tổ chức tín dụng trong tài trợ các dự án hạ tầng quy mô lớn, kỳ hạn dài.

Nếu trước đây, tín dụng cho hạ tầng chủ yếu được triển khai theo hình thức một ngân hàng đứng ra cấp tín dụng, thì hiện nay, mô hình hợp vốn và đồng tài trợ ngày càng phổ biến đối với các dự án quy mô lớn, kỳ hạn dài. Nhìn lại giai đoạn 5 năm 2021–2025, điều dễ nhận thấy là các ngân hàng ngày càng tham gia sâu hơn vào các gói tín dụng hợp vốn/thu xếp vốn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn, với cấu trúc vay dài hạn, đồng tài trợ và có ngân hàng đầu mối. Điển hình, năm 2024, Vietcombank, VietinBank và BIDV ký hợp đồng hợp vốn 1,8 tỷ USD tài trợ cho dự án thành phần 3 thuộc Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 (ACV), trong đó Vietcombank làm đầu mối.

Theo các chuyên gia, việc nhiều ngân hàng cùng tham gia một dự án không chỉ giúp phân tán rủi ro tín dụng, mà còn phù hợp hơn với các quy định về giới hạn cấp tín dụng và chuẩn mực an toàn vốn. Đồng thời, mô hình này tạo điều kiện để các ngân hàng phát huy thế mạnh riêng, từ thu xếp vốn, quản trị rủi ro đến cung cấp các dịch vụ ngân hàng đi kèm trong suốt vòng đời dự án.

Thực tế cho thấy, trong các dự án hạ tầng trọng điểm được triển khai thời gian qua, vai trò của ngân hàng không chỉ dừng ở việc cung cấp vốn, mà còn là yếu tố góp phần bảo đảm tính khả thi tài chính và tiến độ thực hiện. Dòng vốn tín dụng, cùng với đầu tư công và nguồn lực xã hội, đã tạo nên sự liên thông trong chuỗi dự án – nhà thầu – vật liệu – logistics, hạn chế nguy cơ đứt gãy dòng tiền trong quá trình triển khai.

Dòng vốn ngân hàng góp sức tạo nên sức bật mới cho đất nước
Dòng vốn từ hệ thống ngân hàng đồng hành cùng nhiều dự án trọng điểm của đất nước trong thời gian qua

Từ góc độ vĩ mô, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân), cho rằng dòng vốn ngân hàng có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi tài trợ cho từng công trình cụ thể. Theo ông, khi hệ thống ngân hàng vận hành an toàn, kỷ luật và có sức chống chịu, nền tảng ổn định tài chính được củng cố, qua đó góp phần duy trì niềm tin của thị trường và tạo điều kiện huy động các nguồn lực cho tăng trưởng.

Nhìn rộng hơn, chính sự ổn định và kỷ luật của hệ thống ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng giúp nền kinh tế duy trì được nhịp tăng trưởng, đồng thời bảo đảm cân bằng và an toàn vĩ mô trong giai đoạn phát triển mới.

Duy trì dòng vốn trong khuôn khổ an toàn

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia – từ sân bay, cảng biển, cao tốc đến các tuyến vành đai, thường có quy mô vốn lớn và thời gian triển khai, thu hồi vốn dài hơn so với nhiều lĩnh vực sản xuất – kinh doanh thông thường. Đặc điểm này đòi hỏi quá trình thu xếp và quản lý nguồn vốn phải được thực hiện chặt chẽ, đồng bộ. Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng vừa đóng vai trò cung ứng nguồn lực tài chính quan trọng, vừa bảo đảm tuân thủ các quy định về an toàn vốn, quản trị rủi ro và kỷ luật tín dụng theo khung khổ pháp lý hiện hành.

Từ góc độ thực tiễn chính sách, PGS.TS Trần Việt Dũng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng (Học viện Ngân hàng) cho rằng, trong năm 2025 vừa qua, việc điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng của Ngân hàng Nhà nước theo hướng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiểm soát chặt chẽ rủi ro, đã góp phần duy trì dòng vốn ngân hàng tương đối ổn định và thông suốt. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh nhiều dự án hạ tầng bước vào giai đoạn thi công cao điểm, đòi hỏi nhu cầu giải ngân lớn nhưng vẫn phải bảo đảm tuân thủ các quy định về an toàn hệ thống và quản trị rủi ro theo khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Dòng vốn ngân hàng góp phần tạo sức bật mới cho đất nước
PGS.TS Trần Việt Dũng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng (Học viện Ngân hàng)

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tín dụng toàn hệ thống năm 2025 tăng 2,97 triệu tỷ đồng, đạt quy mô 18,58 triệu tỷ đồng, tương đương mức tăng 19,01% so với cuối năm 2024. PGS.TS Trần Việt Dũng nhận định quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng này phản ánh “độ phủ” của dòng vốn ngân hàng trong năm 2025, tạo nền tảng để nhiều dự án, nhà thầu và chuỗi cung ứng duy trì vận hành liên tục.

Trong việc triển khai các hạ tầng, vốn ngân hàng thường được sử dụng như nguồn bổ sung trong giai đoạn chờ giải ngân đầu tư công hoặc hoàn tất thủ tục thanh toán khối lượng. Đồng thời, đây cũng là nguồn vốn lưu động quan trọng đối với doanh nghiệp trong các ngành thâm dụng vốn như xây lắp, vật liệu và vận tải, giúp duy trì dòng tiền và hạn chế nguy cơ gián đoạn sản xuất – thi công.

Đáng chú ý, theo PGS.TS Trần Việt Dũng, đóng góp nổi bật của dòng vốn ngân hàng trong giai đoạn vừa qua không chỉ nằm ở việc cung ứng kịp thời, mà còn ở việc duy trì cấp vốn trong bối cảnh kỷ luật an toàn vốn ngày càng chặt chẽ. Năm 2025 vừa là thời điểm cần tăng tốc tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng, vừa là thời điểm chuẩn bị bước vào các chuẩn mực an toàn vốn cao hơn. Việc ban hành Thông tư số 14/2025/TT-NHNN, với yêu cầu duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và bổ sung các bộ đệm vốn, đã đặt ra áp lực lớn hơn đối với năng lực vốn và quản trị rủi ro của các ngân hàng khi mở rộng tín dụng trung – dài hạn.

Trên cơ sở đó, Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng cho rằng để tiếp tục đồng hành với các dự án hạ tầng quy mô lớn, kỳ hạn dài trong giai đoạn tới, hệ thống ngân hàng cần củng cố năng lực vốn và quản trị rủi ro, đồng thời nâng cao khả năng huy động nguồn vốn trung – dài hạn và phối hợp trong thu xếp, đồng tài trợ. Đối với các dự án PPP, ông nhấn mạnh vai trò của cơ chế chia sẻ rủi ro doanh thu và yêu cầu hướng dẫn, thực thi nhất quán, bởi đây là cơ sở để các tổ chức tín dụng và nhà đầu tư có thể lượng hóa rủi ro dòng tiền và xem xét mở rộng tham gia.

Trong khi đó, theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giai đoạn tới, khi nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn tiếp tục gia tăng, Nhà nước cần chú trọng đa dạng hóa nguồn vốn để giảm áp lực tập trung quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Bên cạnh vốn ngân hàng, cần phát triển đồng bộ các kênh như thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu địa phương, hợp tác công – tư, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn vốn vay ưu đãi, vay thương mại dài hạn, bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật từ các định chế tài chính quốc tế như WB, ADB, AIIB… Việc phối hợp nhiều kênh huy động sẽ giúp phân bổ rủi ro hợp lý hơn và tăng tính bền vững cho cấu trúc tài chính của các dự án hạ tầng dài hạn.

Dòng vốn ngân hàng góp phần tạo sức bật mới cho đất nước
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng cần đa dạng hóa nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu về tài chính cho các dự án trọng điểm quốc gia

Vị chuyên gia nhấn mạnh, chính sách cần được thiết kế theo hướng đồng bộ, minh bạch và tạo điều kiện để các kênh vốn cùng tham gia, bảo đảm dòng vốn cho các công trình hạ tầng trọng điểm được duy trì ổn định trong suốt vòng đời dự án.

Bước sang năm 2026 là giai đoạn mở đầu cho chu kỳ phát triển mới của đất nước, yêu cầu đặt ra đối với dòng vốn phục vụ tăng trưởng không chỉ là đáp ứng nhu cầu trước mắt, mà là bảo đảm một cấu trúc tài chính đủ ổn định và bền vững cho dài hạn. Trong cấu trúc đó, theo các chuyên gia, ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trụ cột, đồng thời cần được đặt trong mối quan hệ phối hợp hài hòa với các kênh vốn khác, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển hạ tầng và tăng trưởng bền vững trong “kỷ nguyên vươn mình”.

Hồng Sơn

Tin liên quan

Tin khác

Nông nghiệp giữ đà tăng trưởng, bài toán lớn ở 4 tháng cuối năm

Nông nghiệp giữ đà tăng trưởng, bài toán lớn ở 4 tháng cuối năm

Sau 8 tháng, nông nghiệp tiếp tục giữ đà tăng trưởng, xuất khẩu đạt 49,3 tỷ USD, nhưng áp lực tăng tốc đang dồn vào những tháng cuối năm.
Công nghệ sinh học trở thành động lực mới cho nền nông nghiệp xanh

Công nghệ sinh học trở thành động lực mới cho nền nông nghiệp xanh

Không chỉ tạo ra những sản phẩm mới, công nghệ sinh học đang mở ra một hướng tiếp cận khác cho nông nghiệp Việt Nam đó là sản xuất nhiều hơn nhưng sử dụng ít tài nguyên hơn, giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học, tận dụng tốt hơn phụ phẩm và nâng giá trị nông sản ngay từ đồng ruộng. Khi yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và phát triển xanh ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc của thị trường, đây được xem là một trong những chìa khóa để nông nghiệp chuyển từ tư duy “tăng sản lượng” sang “tăng giá trị”.
Tăng tốc chống khai thác IUU, siết chặt đội tàu

Tăng tốc chống khai thác IUU, siết chặt đội tàu

Đà Nẵng đang bước vào giai đoạn cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), tập trung rà soát đội tàu, kiểm soát hoạt động khai thác, truy xuất nguồn gốc và xử lý nghiêm vi phạm. Đây được xem là bước quan trọng để TP. Đà Nẵng cùng cả nước khắc phục các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC), hướng tới gỡ “thẻ vàng” thủy sản ngay trong năm 2026.
Gỡ điểm nghẽn, đánh thức tiềm năng nông nghiệp Đà Nẵng

Gỡ điểm nghẽn, đánh thức tiềm năng nông nghiệp Đà Nẵng

Đầu ra thiếu ổn định, sản xuất nhỏ lẻ, liên kết với doanh nghiệp chưa bền vững và khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế đang là những “nút thắt” của nông nghiệp Đà Nẵng. Thành phố đang tìm cách đưa khoa học công nghệ, chuyển đổi số đến gần hơn với nông dân, đồng thời tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Thủy sản Việt tìm động lực tăng trưởng từ công nghệ và thị trường nội địa

Thủy sản Việt tìm động lực tăng trưởng từ công nghệ và thị trường nội địa

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh dựa vào sản lượng và xuất khẩu, thủy sản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển sang mô hình tạo giá trị cao hơn. Công nghệ, chế biến sâu, minh bạch chuỗi cung ứng và khai thác thị trường gần 100 triệu dân được xem là những động lực quan trọng để ngành hướng tới mục tiêu xuất khẩu 12 tỷ USD và tăng trưởng bền vững.
Ngành chăn nuôi: Lợi thế cạnh tranh phía sau việc gắn mã QR

Ngành chăn nuôi: Lợi thế cạnh tranh phía sau việc gắn mã QR

Truy xuất nguồn gốc đang dần trở thành một tiêu chuẩn cạnh tranh mới của ngành chăn nuôi. Nhưng để một mã QR thực sự tạo thêm giá trị cho sản phẩm, phía sau đó phải là cả một chuỗi sản xuất được kiểm soát, kết nối dữ liệu và quan trọng hơn, có đầu ra ổn định.
Sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD: Cơ hội lớn, áp lực chuẩn hóa chuỗi càng cao

Sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD: Cơ hội lớn, áp lực chuẩn hóa chuỗi càng cao

Xuất khẩu sầu riêng tiếp tục tăng mạnh trong khi vụ thu hoạch lớn tại Tây Nguyên mới bước vào chính vụ. Cánh cửa thị trường Ấn Độ vừa mở thêm dư địa tăng trưởng, nhưng để tiến tới mốc 4 tỷ USD, doanh nghiệp không chỉ cần thêm thị trường mà còn phải kiểm soát chặt vùng nguyên liệu, chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Đà Nẵng phát huy sức mạnh toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Đà Nẵng phát huy sức mạnh toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Sau 10 năm triển khai Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", Đà Nẵng huy động hiệu quả sức mạnh của cả hệ thống chính trị và người dân, tạo nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa và giữ vững an ninh trật tự ở cơ sở.
Nông nghiệp muốn đi xa, cơ giới hóa phải bắt nhịp cùng tổ chức sản xuất

Nông nghiệp muốn đi xa, cơ giới hóa phải bắt nhịp cùng tổ chức sản xuất

Cơ giới hóa đang trở thành một trong những động lực quan trọng để nông nghiệp Việt Nam nâng năng suất, giảm chi phí và tiến gần hơn tới sản xuất hiện đại. Nhưng đằng sau những con số tăng trưởng về máy móc vẫn còn một nghịch lý là nơi đã cơ giới hóa cao thì chưa đồng bộ, nơi cần cơ giới hóa mạnh lại thiếu máy móc phù hợp. Nếu không giải được bài toán này, đầu tư công nghệ rất dễ rơi vào tình trạng “có máy nhưng chưa tạo ra giá trị”.
Đơn giản hóa TTHC về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Đơn giản hóa TTHC về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.