ECB sẽ tăng mua trái phiếu để “hãm” lãi suất

10:49 | 15/03/2021

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho biết họ dự kiến sẽ tăng “đáng kể” lượng mua vào trái phiếu trong quý tới, sau khi chi phí đi vay tăng trong khu vực.

Sẽ tăng tốc độ mua trái phiếu

Hội đồng Thống đốc của ECB vừa quyết định không thay đổi Chương trình Mua tài sản khẩn cấp để ứng phó với đại dịch (PEPP) với tổng quy mô là 1,85 nghìn tỷ euro (2,21 nghìn tỷ USD), kéo dài đến tháng 3/2022. Tuy nhiên, lượng mua trái phiếu của ECB trong quý đầu năm thấp hơn bình thường và cơ quan này cho biết, họ dự kiến sẽ tăng lượng mua trong tương lai. “Dựa trên đánh giá chung về các điều kiện tài chính và triển vọng lạm phát, Hội đồng thống đốc dự kiến các giao dịch mua theo PEPP trong quý tới sẽ được tiến hành với tốc độ cao hơn đáng kể so với những tháng đầu năm nay”, ECB cho biết trong một tuyên bố.

ecb se tang mua trai phieu de ham lai suat
Chủ tịch ECB Christine Lagarde

Lợi suất trái phiếu trong khu vực đồng euro đã tăng kể từ tháng 2 theo chân lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ sau khi Tổng thống Joe Biden công bố một kế hoạch kích thích tài chính lớn. Điều đó đã khiến không ít người lo ngại, lợi suất tăng có thể làm ảnh hưởng đến sự phục hồi kinh tế ở châu Âu khi nó làm tăng chi phí đi vay đối với các nước trong khu vực vốn đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng coronavirus.

Bởi vậy tuyên bố hôm 11/3 của ECB đã phần nào trấn an các nhà đầu tư, khiến lợi suất trái phiếu quay đầu giảm trong khu vực đồng euro. Bởi việc ECB cam kết mua vào trái phiếu nhiều hơn sẽ hỗ trợ giá trái phiếu, từ đó giúp giảm chi phí đi vay do lợi suất trái phiếu tỷ lệ nghịch với giá cả.

“Hội đồng Thống đốc sẽ mua hàng linh hoạt theo điều kiện thị trường và nhằm ngăn chặn việc thắt chặt các điều kiện tài chính không phù hợp với việc chống lại tác động tiêu cực của đại dịch đối với lộ trình dự kiến của lạm phát”, ECB cho biết thêm.

Phát biểu với CNBC vào đầu tháng này, Jens Weidmann – một thành viên của ECB nói rằng, những thay đổi đối với chương trình mua trái phiếu chính phủ của ECB có thể được thực hiện nhằm xoa dịu thị trường trái phiếu. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp đối với ECB. ECB không thể hành động trực tiếp để giải quyết lợi tức trái phiếu vì đây không phải là một phần nhiệm vụ của cơ quan này. Bởi bất kỳ động thái nào như vậy có thể làm dấy lên những lời chỉ trích rằng ECB đang bảo vệ các chính phủ khu vực đồng euro khỏi các động lực thị trường và làm tăng kỳ vọng rằng nó luôn có thể làm như vậy khi lợi suất tăng.

“Chúng tôi không kiểm soát đường cong lợi suất”, Chủ tịch ECB Christine Lagarde cho biết trong cuộc họp báo hôm thứ Năm. Nhìn chung, những rủi ro xung quanh triển vọng tăng trưởng của khu vực đồng euro trong trung hạn đã trở nên cân bằng hơn.

Triển vọng kinh tế vẫn nhiều rủi ro

Còn nhớ hồi tháng 12/2020, ECB đã dự báo GDP trong khu vực đồng euro (Eurozone) sẽ tăng 3,9% trong năm nay và 4,2% vào năm 2022. Tuy nhiên trong ước tính mới nhất của mình được công bố hôm 11/3, ECB đã điều chỉnh dự báo tăng trưởng GDP của khu vực lên 4% cho năm 2021, song lại hạ dự báo tăng trưởng năm 2022 xuống còn 4,1%.

Theo Chủ tịch ECB, các chiến dịch tiêm chủng đang diễn ra, cùng với việc nới lỏng dần các biện pháp kiểm soát dịch bệnh sẽ củng cố kỳ vọng về sự phục hồi vững chắc trong hoạt động kinh tế năm 2021. Tuy nhiên bà lưu ý, đại dịch đang diễn ra tiếp tục gây rủi ro cho nền kinh tế và nói chung người tiêu dùng vẫn thận trọng về triển vọng. “Nhìn chung, những rủi ro xung quanh triển vọng tăng trưởng khu vực đồng euro trong trung hạn đã trở nên cân bằng hơn”, Lagarde nói, đề cập đến các chiến dịch tiêm chủng, các chương trình kích thích tài chính và triển vọng tốt hơn của nhu cầu toàn cầu.

Hiện một số quốc gia thuộc Liên minh châu Âu vẫn trong tình trạng cấm vận, một số khác vẫn đang áp dụng các biện pháp hạn chế cứng rắn. Ngoài ra, việc triển khai vắcxin Covid còn chậm trong khu vực. Điều này có thể gây thêm áp lực lên 19 nền kinh tế Eurozone và cản trở đà phục hồi kinh tế của các quốc gia này.

ECB đã kêu gọi các chính phủ trong khu vực đẩy mạnh các phản ứng tài khóa của họ, cho rằng gánh nặng không thể chỉ nằm trên vai của ECB. Liên minh châu Âu đã đồng ý với một mức kích thích tài khóa chưa từng có vào năm ngoái, nhưng những khoản tiền này sẽ chỉ được giải ngân từ mùa hè này trở đi.

Về lạm phát, ECB dự kiến sẽ có một số biến động trong những tháng tới. “Trên cơ sở giá dầu kỳ hạn hiện tại, lạm phát có khả năng tăng trong những tháng tới, nhưng một số biến động dự kiến sẽ diễn ra trong suốt cả năm phản ánh sự thay đổi động lực của các yếu tố hiện đang đẩy lạm phát lên cao. Những yếu tố này có thể giảm dần khỏi tỷ lệ lạm phát hàng năm vào đầu năm tới”, Lagarde cho biết.

ECB ước tính tỷ lệ lạm phát là 1,5% vào năm 2021 và 1,2% vào năm 2022. Nhiệm vụ của ECB là giữ giá thấp hơn nhưng gần 2% trong trung hạn.

ECB cũng quyết định sẽ tiếp tục tái đầu tư các khoản thanh toán gốc từ các chứng khoán đáo hạn được mua theo PEPP cho đến ít nhất là cuối năm 2023. Đồng thời tiếp tục mua ròng theo chương trình mua tài sản (APP) với tốc độ hàng tháng là 20 tỷ euro cho đến khi bắt đầu tăng lãi suất chính sách. ECB cũng có ý định tiếp tục tái đầu tư đầy đủ các khoản thanh toán gốc từ chứng khoán đáo hạn được mua theo APP trong một khoảng thời gian dài sau ngày bắt đầu tăng lãi suất chính của ECB, miễn là cần thiết để duy trì các điều kiện thanh khoản thuận lợi và mức độ thuận lợi về tiền tệ.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.140 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.930 23.130 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.903 23.123 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.895 23.105 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.930 23.110 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.930 23.110 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.930 23.145 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.905 23.125 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.930 23.110 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.940 23.100 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.000
Vàng SJC 5c
56.450
57.020
Vàng nhẫn 9999
51.600
52.200
Vàng nữ trang 9999
51.200
51.900