FDI nửa đầu năm 2021: Đăng ký giảm, giải ngân tăng

09:24 | 25/06/2021

Diễn biến dòng vốn FDI nửa đầu năm 2021 cho thấy sự trái chiều ở kênh thu hút và giải ngân, trong khi vốn đăng ký giảm do tác động của dịch Covid-19 thì giải ngân vẫn tăng khi nhà đầu tư đã đăng ký giai đoạn trước tiếp tục mở rộng hoạt động.

fdi nua dau nam 2021 dang ky giam giai ngan tang

Cụ thể, tính đến 20/6/2021, vốn thực hiện của các dự án FDI ước đạt 9,24 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2020, theo dữ liệu vừa được Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cập nhật.

“Mặc dù vẫn bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, song nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tiếp tục phục hồi và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh tốt”, Cục Đầu tư nước ngoài lý giải.

Tuy nhiên, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài chỉ đạt 15,27 tỷ USD, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm 2020.

Trong đó, có 804 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (giảm 43,3%), tổng vốn đăng ký đạt gần 9,55 tỷ USD (tăng 13,2% so với cùng kỳ); có 460 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 12,5%), tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt 4,12 tỷ USD (tăng 10,6% so với cùng kỳ); và có 1.855 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (giảm 55%), tổng giá trị vốn góp đạt gần 1,61 tỷ USD (giảm 54,3% so với cùng kỳ).

Cục Đầu tư nước ngoài lưu ý, việc số lượng dự án cấp mới, điều chỉnh giảm so với cùng kỳ (tương ứng 43,3% và 12,5%) chủ yếu nằm ở nhóm các dự án quy mô nhỏ.

Trong đó, số lượng dự án có quy mô dưới 1 triệu USD giảm 47,7% so với cùng kỳ 2020 và giảm 54,2% so với cùng kỳ 2019; số lượng dự án mới có quy mô dưới 5 triệu USD giảm 48,2% so với cùng kỳ 2020 và giảm 56,1% so với cùng kỳ 2019; số lượt dự án điều chỉnh vốn dưới 5 triệu USD giảm 19% so với cùng kỳ 2020 và giảm 28,5% so với cùng kỳ 2019…

Việc giảm số lượng dự án cấp mới cũng như điều chỉnh vốn quy mô nhỏ, trong khi vốn đầu tư đăng ký tăng đã làm tăng quy mô bình quân của các dự án cấp mới và điều chỉnh vốn so với cùng kỳ.

Quy mô vốn bình quân tăng từ gần 6 triệu USD/dự án mới trong 6 tháng năm 2020 tăng lên 11,8 triệu USD/dự án mới trong 6 tháng năm 2021 và tăng từ 7,1 triệu USD/lượt dự án điều chỉnh vốn lên trên 8,9 triệu USD/lượt dự án điều chỉnh vốn.

Một điểm cũng đáng chú ý là đầu tư theo phương thức góp vốn mua cổ phần trong 6 tháng đầu năm 2021 vẫn tiếp tục giảm theo xu hướng chung của năm 2021 cả về số lượt góp vốn mua cổ phần lẫn giá trị vốn góp.

“Đại dịch Covid -19 đã ảnh hưởng lớn đến thị trường M&A trên thế giới nói chung và cả Việt Nam. Bởi đặc thù của M&A cần có sự tham gia trực tiếp tìm hiểu, nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài, nên việc hạn chế di chuyển trong bối cảnh đại dịch đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài”, Cục Đầu tư nước ngoài cho biết.

Nhưng dù giảm cả về số lượt góp vốn mua cổ phần cũng như giá trị vốn góp, xong mức độ giảm đang được cải thiện dần: số lượt góp vốn mua cổ phần 6 tháng năm 2021 giảm 55%, thấp hơn so với 5 tháng là 59,7%; 4 tháng là 64,1%; 3 tháng là 70,9%. Giá trị vốn góp 6 tháng đầu năm nay giảm 54,3%, thấp hơn so với 5 tháng là 56,3%; 4 tháng là 57,8%; 3 tháng đầu năm là 58,8%.

Về nguyên nhân giảm số lượng dự án cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, theo Cục Đầu tư nước ngoài, khách quan là do FDI toàn cầu giảm; dịch Covid tại các quốc gia đối tác (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,..) vẫn diễn biến phức tạp; các quốc gia trên thế giới vẫn duy trì biện pháp hạn chế dịch chuyển; nhà đầu tư trong làn sóng đầu tư mới yêu cầu phải đáp ứng ngay các điều kiện về đất đai, nhân lực, nguồn cung nguyên vật liệu, thủ tục nhanh gọn, ưu đãi cạnh tranh, tuy nhiên trong một số trường hợp ta không đáp ứng đủ các điều kiện mà nhà đầu tư đặt ra.

Về chủ quan, đó là do chính sách thu hút đầu tư có chọn lọc của Việt Nam làm giảm số lượng và tăng về chất lượng; các chuyến bay thương mại giữa Việt Nam và các nước đối tác đang bị tạm dừng, hoặc nếu có vào được thì thủ tục cũng rất phức tạp nên phần nào hạn chế các nhà đầu tư mới vào Việt Nam để khảo sát, đưa ra quyết định đầu tư; các thủ tục đầu tư kinh doanh vẫn còn là một rào cản; hoạt động xúc tiến đầu tư thiếu sự chủ động...

Xét về lĩnh vực đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành lĩnh vực. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 6,98 tỷ USD, chiếm 45,7% tổng vốn đầu tư đăng ký; sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 5,34 tỷ USD, chiếm gần 35% tổng vốn đầu tư đăng ký; tiếp theo lần lượt là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản, hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ với tổng vốn đăng ký đạt 1,15 tỷ USD và 476 triệu USD...

Theo đối tác đầu tư, đã có 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 6 tháng đầu năm. Đầu tư của một số đối tác lớn như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc đều tăng lên so với cùng kỳ. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 5,64 tỷ USD, chiếm gần 36,9% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2020; Nhật Bản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 2,44 tỷ USD, chiếm gần 16% tổng vốn đầu tư và tăng 66,8% so với cùng kỳ.

Vốn đầu tư của Singapore và Nhật Bản chủ yếu theo hình thức đầu tư mới, chiếm lần lượt 84% và 67,8% tổng vốn đăng ký của 2 quốc gia này. Hàn Quốc đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,05 tỷ USD, chiếm 13,4% tổng vốn đầu tư, tăng 43,6% so với cùng kỳ; tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan…

Theo địa bàn đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 56 tỉnh, thành phố trên cả nước trong 6 tháng đầu năm. Long An dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký 3,57 tỷ USD, chiếm 23,4% tổng vốn đầu tư đăng ký; TP. Hồ Chí Minh đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký 1,43 tỷ USD, chiếm 9,3% tổng vốn đầu tư; Cần Thơ đứng thứ ba với 1,32 tỷ USD, chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư; tiếp theo lần lượt là Bình Dương, Hải Phòng, Hà Nội...

Về xuất, nhập khẩu của khu vực FDI, kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm. Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 116 tỷ USD, tăng 32,2% so với cùng kỳ, chiếm 74,1% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt 115,3 tỷ USD, tăng 32,6% so với cùng kỳ, chiếm 73,6% kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Kim ngạch nhập khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài ước đạt trên 102,6 tỷ USD, tăng 38,7% so cùng kỳ và chiếm 64,9% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

Như vậy, trong 6 tháng đầu năm 2021, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 13,4 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu gần 12,7 tỷ USD không kể dầu thô.

Lũy kế đến ngày 20/6/2021, cả nước có 33.787 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 397,9 tỷ USD; vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 241,1 tỷ USD, bằng 60,6% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

M.Hồng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.930 23.200 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.950 23.190 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.939 23.199 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.730 22.940 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.950 23.160 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.960 23.160 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.980 23.200 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.934 23.185 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.990 23.190 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.010 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.750
61.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.750
61.450
Vàng SJC 5c
60.750
61.470
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.400
Vàng nữ trang 9999
51.400
52.100