Fed giữ nguyên lãi suất và việc mua tài sản

10:32 | 28/01/2021

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hôm thứ Tư đã quyết định tiếp tục duy trì lãi suất chính sách ở mức sàn, nhằm qua đó trợ giúp cho nền kinh tế mà theo các quan chức ngân hàng trung ương là đang chậm lại.

fed giu nguyen lai suat va viec mua tai san

Đưa ra quyết định phù hợp với kỳ vọng của thị trường, Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) cho biết họ tiếp tục giữ lãi suất cho vay ngắn hạn chuẩn của mình gần bằng 0 và duy trì chương trình mua tài sản mà Fed đang mua ít nhất 120 tỷ USD mỗi tháng.

“Nền kinh tế còn một chặng đường dài để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ và mục tiêu lạm phát của chúng tôi, và có khả năng sẽ mất một thời gian nữa để có thể đạt được những tiến bộ đáng kể hơn”, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết tại cuộc họp báo sau cuộc họp chính sách. Ông nói thêm: Chính sách tiền tệ sẽ vẫn “có tính thích nghi cao khi quá trình phục hồi diễn ra”.

Cốt lõi của động thái giữ cho chính sách có tính thích nghi cao là để đối phó với một nền kinh tế mà trong đó các lĩnh vực dễ bị tổn thương đang chịu tác động nặng nề nhất bởi đại dịch .

“Tốc độ phục hồi trong hoạt động kinh tế và việc làm đã có sự điều chỉnh trong những tháng gần đây, với sự yếu kém hơn tập trung ở các lĩnh vực bị ảnh hưởng xấu nhất bởi đại dịch”, tuyên bố sau cuộc họp của FOMC cho biết.

Tuyên bố nhắc lại rằng Covid-19 đang "gây ra khó khăn kinh tế và ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân trên khắp nước Mỹ và trên toàn cầu".

Ủy ban không thay đổi quan điểm so với các tuyên bố trước đó, ngoài việc bổ sung thêm vào lập trường của mình rằng tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào diễn biến đại dịch.

“Đường đi của nền kinh tế sẽ phụ thuộc đáng kể vào tiến trình kiểm soát đại dịch, bao gồm cả kết quả của chương trình tiêm chủng”, tuyên bố cho biết.

Quyết định này có nghĩa là lãi suất cho vay, vốn đóng vai trò là điểm chuẩn cho nhiều loại công cụ nợ tiêu dùng khác, sẽ duy trì trong phạm vi từ 0% đến 0,25%, mà gần đây nhất được giao dịch ở mức 0,08%.

Fed đã đưa lãi suất về 0 trong những ngày đầu của đại dịch Covid-19 và đã duy trì mức này kể từ đó. Trong những tháng gần đây, các quan chức Fed thậm chí còn quyết liệt hơn trong cam kết lãi suất thấp, tuyên bố sẽ không bắt đầu tăng ngay cả khi lạm phát gần bằng hoặc vượt quá mục tiêu 2% của ngân hàng trung ương.

Tuy nhiên, các thị trường đang dõi theo xem liệu tuyên bố sau cuộc họp lần này có cung cấp bất kỳ manh mối nào về tương lai việc mua tài sản hoặc nới lỏng định lượng.

Kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng Covid-19, Fed đã mở rộng tài sản nắm giữ của mình lên hơn 3 nghìn tỷ USD, nâng bảng cân đối kế toán của mình lên gần 7,5 nghìn tỷ USD.

Mặc dù hiện tại lạm phát vẫn ở mức thấp, nhưng các nhà đầu tư lo ngại rằng Fed có thể bắt đầu giảm lượng mua tài sản bất ngờ nếu các điều kiện thay đổi và điều này sẽ gây ra những xáo trộn trên thị trường.

“Về việc rút bớt hỗ trợ, thời điểm này sẽ là quá sớm. Chúng tôi đã đưa ra định hướng. Chúng tôi cho rằng khi nào nhìn thấy những tiến bộ đáng kể hơn nữa trong việc thực hiện các mục tiêu của mình thì chúng tôi sẽ điều chỉnh việc mua tài sản”, Powell nói. “Còn quá sớm để nói về thời điểm đó. Chúng ta nên tập trung tìm kiếm chỉ báo về những tiến bộ cần đạt được”.

Ông cũng nhắc lại cam kết của mình rằng thị trường sẽ nhận được những thông tin định hướng trước khi có bất kỳ sự cắt giảm hỗ trợ nào thực sự được đưa ra.

“Khi chúng tôi thấy mình đang tiến đến mục tiêu, chúng tôi sẽ tuyên bố rõ ràng với công chúng để không ai ngạc nhiên khi thời điểm đến, và chúng tôi sẽ làm ngay điều đó khi đến lúc để không làm gia tăng những quan ngại đối với việc rút dần các biện pháp hỗ trợ”, Powell nói.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.400
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.400
57.050
Vàng SJC 5c
56.400
57.070
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800