Gần 25 triệu người bị tác động tiêu cực do đại dịch

17:31 | 06/01/2022

Ảnh hưởng của COVID-19 đã khiến cho hàng triệu người mất việc, lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực dịch vụ. Năm 2021 có 24,7 triệu người bị tác động tiêu cực bởi đại dịch Covid-19, trong đó có 2,3 triệu người mất việc làm; hơn 12,4 triệu người phải tạm nghỉ việc một thời gian do doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất, kinh doanh để thực hiện giãn cách xã hội; 8 triệu người bị cắt giảm thời gian làm việc, làm việc luân phiên. Thông tin vừa được Tổng cục Thống kê (TCTK) nhấn mạnh tại cuộc họp báo công bố tình hình lao động và việc làm quý IV và năm 2021.    

 

gan 25 trieu nguoi bi tac dong tieu cuc do dai dich
Ảnh minh họa - TTXVN

Thị trường lao động bị ảnh hưởng nặng nề

Năm 2021 có 24,7 triệu người bị tác động tiêu cực bởi đại dịch Covid-19, trong đó có 2,3 triệu người mất việc làm; hơn 12,4 triệu người phải tạm nghỉ việc một thời gian do doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất, kinh doanh để thực hiện giãn cách xã hội; 8 triệu người bị cắt giảm thời gian làm việc, làm việc luân phiên. Trong bối cảnh này, năm 2021 có tới 16,9 triệu lao động bị giảm thu nhập. 

“So với năm 2020 - năm mà dịch bệnh đã khiến thị trường lao động “u ám” chưa từng có thì năm 2021, do  dịch bệnh diễn ra nghiêm trọng hơn, cả chiều rộng lẫn chiều sâu đã khiến hàng triệu người mất việc làm. Lao động trong hầu hết các khu vực kinh tế đều giảm, đặc biệt là khu vực dịch vụ", Tổng cục Thống kê cho hay.

Cụ thể, khu vực công nghiệp và xây dựng thu hút 16,3 triệu lao động, giảm 253.000 người so với năm 2020. Khu vực dịch vụ thu hút 18,6 triệu lao động, giảm 860.000 người. Chỉ có khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, nơi đang sử dụng 14,2 triệu lao động, tăng 33.200 người so với năm 2020.

Tuy nhiên, sau khi triển khai Nghị quyết 128/NQ-CP về việc quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, thị trường lao động quý IV năm 2021 bắt đầu có khởi sắc so với quý III.

“Nhưng do hậu quả nặng nề từ 3 quý đầu năm, đặc biệt là từ tháng 4 đến tháng 9 khiến lao động trong khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục giảm so với quý IV năm 2020. Trong quý IV năm 2021, lao động làm việc trong khu vực dịch vụ là 17,9 triệu người, tăng 762.500 người so với quý III. Lao động làm việc trong khu vực công nghiệp và xây dựng là 16,8 triệu người, tăng 1,2 triệu người.

Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2020, ngoại trừ khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản thì lực lượng lao động của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ (trừ lĩnh vực tài chính ngân hàng, bảo hiểm) đều giảm. Trong đó, lao động trong khu vực công nghiệp - xây dựng giảm 239.000 người, mặc dù hoạt động sản xuất, đặc biệt là lĩnh vực chế biến, chế tạo đã dần được khôi phục kể từ đầu tháng 10.

Quý IV khởi sắc nhưng vẫn giảm so với cùng kỳ 

Theo Tổng cục Thống kê, tính chung năm 2021, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 3,22%, nếu tính cả tỷ lệ người lao động thiếu việc làm, thì con số thất nghiệp thực tế lên tới 6,32%. Trong đó, quý III có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất từ trước đến nay với gần 4 người trong độ tuổi làm việc bị thất nghiệp trong 100 người lao động. Mặc dù đầu tháng 10 đã mở cửa lại hoạt động sản xuất - kinh doanh nhưng tỷ lệ thất nghiệp trong quý IV chỉ giảm nhẹ so với quý III và tăng khá cao so với 6 tháng đầu năm cũng như cùng kỳ các năm trước. Đặc biệt là thất nghiệp của thanh niên ở khu vực thành thị lên tới 11,91%.

“Tình hình lao động, việc làm quý IV/2021 khởi sắc so với quý trước nhưng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm tính chung năm 2021 cao hơn năm trước, trong khi số người có việc làm, thu nhập của người làm công hưởng lương thấp hơn năm trước”, Tổng cục Thống kê cho hay.

Năm 2021 thu nhập bình quân tháng của người lao động là 5,7 triệu đồng, giảm 32 nghìn đồng so với năm 2020. Thu nhập bình quân tháng của lao động nam là 6,6 triệu đồng, cao hơn 1,40 lần của lao động nữ (4,7 triệu đồng). Thu nhập bình quân của lao động khu vực thành thị là 7,0 triệu đồng, cao hơn 1,40 lần mức thu nhập bình quân lao động khu vực nông thôn (5,0 triệu đồng).

Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công ăn lương năm 2021 là 6,6 triệu đồng, giảm 45 nghìn đồng so với năm 2020. Lao động nam có mức thu nhập bình quân cao hơn 1,15 lần mức thu nhập bình quân của lao động nữ (7,0 triệu đồng so với 6,0 triệu đồng); lao động khu vực thành thị có thu nhập bình quân cao hơn 1,23 lần lao động khu vực nông thôn (7,3 triệu đồng so với 5,9 triệu đồng).

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.090 23.300 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.058 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.054 23.345 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.110 23.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.000
69.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.000
69.000
Vàng SJC 5c
68.000
69.020
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750