Gần 82.000 tỷ đồng đầu tư lưới điện nông thôn

12:19 | 03/10/2019

Trong 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tiêu chí số 4 về Điện nông thôn đã không ngừng được đầu tư, cải tạo, nâng cấp, xây mới lưới điện trung, hạ áp bảo đảm “điện luôn đi trước một bước” góp phần phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp và tạo ra sự khởi sắc cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn.

200 tỷ đồng cải tạo lưới điện nông thôn tỉnh Bắc Ninh

Theo đánh giá, đối với tiêu chí số 4 là điện nông thôn, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị thành viên đóng vai trò chủ lực, nòng cốt, đã không ngừng cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới lưới điện trung, hạ áp nông thôn; đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, sinh hoạt và đảm bảo vận hành an toàn ổn định lưới điện của dân cư khu vực nông thôn.

Kết quả giai đoạn 2016-2019, EVN đã huy động nguồn lực với 81.700 tỉ đồng, gấp 1,6 lần so với vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 (50.100 tỉ đồng) để tập trung đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới lưới điện khu vực nông thôn.

Hệ thống lưới điện nông thôn không ngừng được đầu tư cải tạo, nâng cấp . Ảnh: VGP/Toàn Thắng

Đến nay, EVN đã cấp điện đến 100% số xã, trong đó có 8.072/8.902 xã (khoảng 90,7%) trên cả nước đạt tiêu chí số 4 về nông thôn mới, tăng gần 46% so với năm 2010 và tăng 8,3% so với thời điểm năm 2015. Nhiều tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ 100% tổng số xã trên địa bàn đạt chuẩn nông thôn mới về điện.

Cùng với việc đầu tư xây dựng, phát triển lưới điện khu vực nông thôn, EVN đã tiếp tục đẩy mạnh công tác tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn từ các tổ chức quản lý điện địa phương không đủ năng lực quản lý.

Đến cuối năm 2018, đã tiếp nhận tổng số gần 6.000 xã, quản lý bán điện trực tiếp tới hơn 6,2 triệu hộ dân và tiến hành cải tạo lưới điện sau tiếp nhận với tổng chi phí khoảng 8.000 tỷ đồng. Qua đó, giúp các hộ dân nông thôn được sử dụng điện bảo đảm chất lượng, an toàn, ổn định; được mua điện theo giá quy định của Chính phủ và sử dụng các dịch vụ khách hàng do EVN cung cấp.

Cùng với đó, EVN đã hoàn thành tiếp nhận quản lý và bán điện tại 11/12 huyện đảo, bảo đảm cấp điện ổn định, liên tục 24/24h phục vụ đời sống sinh hoạt, sản xuất của nhân dân trên các đảo, góp phần bảo vệ an ninh chính trị, xã hội và chủ quyền biển đảo.

Tại Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ngành Công Thương giai đoạn 2010 – 2020, ông Võ Quang Lâm, Phó Tổng giám đốc EVN cho biết: "Trong 10 năm triển khai tiêu chí số 4, khó khăn lớn nhất là thiếu nguồn vốn đầu tư cải tạo và phát triển lưới điện nông thôn do đặc thù lưới điện nông thôn trải trên địa bàn rộng lớn, nhiều khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, có những nơi chưa có đường giao thông, nhiều hộ dân sinh sống rải rác. Bên cạnh đó, công tác giải phóng mặt bằng để xây dựng công trình lưới điện mới ngày càng khó khăn, đặc biệt là lưới truyền tải điện 220/110 kV".

Trong giai đoạn tới, EVN kiến nghị Chính phủ xem xét, cân đối bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2025 để thực hiện được mục tiêu của Chương trình “Cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia giai đoạn 2013-2020” theo Quyết định số 2081/QĐ-TTg ngày 8/11/2013 của Chính phủ và Quyết định 1740/QĐ-TTg ngày 13/12/2018.

Đồng thời kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành làm việc với các tổ chức quốc tế tìm kiếm các nguồn vốn ưu đãi và có chính sách của Chính phủ hỗ trợ lãi suất cho EVN để thực hiện các dự án đầu tư lưới điện cho khu vực nông thôn, đáp ứng được mục tiêu của Chương trình đề ra. 

Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng đề nghị UBND các tỉnh ưu tiên bố trí vốn ngân sách hàng năm của tỉnh để thực hiện đầu tư cấp điện cho các hộ dân chưa có điện, khi ngân sách trung ương chưa bố trí vốn, do các dự án cấp điện theo Chương trình này mang tính công ích, thực hiện mục tiêu an sinh xã hội nên không thể vay vốn thương mại để đầu tư.

Kiến nghị Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các tỉnh có kế hoạch và thống nhất danh mục các xã xây dựng nông thôn mới đồng bộ các nguồn lực để thực hiện tập trung 19 tiêu chí, sử dụng kết hợp các nguồn vốn có hiệu quả trong bối cảnh các nguồn vốn đều đang gặp rất nhiều khó khăn. 

Tuyên truyền, vận động các hộ dân tự nguyện tham gia giải phóng mặt bằng để có thêm vốn đầu tư xây dựng mới lưới điện, đáp ứng nhu cầu sử dụng điện ngày càng cao của người dân khu vực nông thôn.

Nguồn: Chinhphu.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080