Hoạt động của doanh nghiệp khó khăn chưa từng có

08:57 | 29/05/2020

Tổng cục Thống kê vừa công bố kết quả khảo sát đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, được thực hiện trên hơn 126.500 DN, trong đó có 51/66 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn. Theo đó, có tới 92,8% DN chịu tác động bởi dịch Covid-19; trong số này có tới gần 20% DN đang phải tạm ngừng hoạt động.

DN càng lớn chịu tác động càng mạnh

Đánh giá tổng quan, ông Phạm Đình Thúy - Vụ trưởng Vụ Thống kê công nghiệp (Tổng cục Thống kê) cho biết, dịch Covid-19 đã và đang tác động tiêu cực nhiều mặt đến hoạt động của hầu hết khu vực DN. Theo quy mô, DN có quy mô càng lớn thì càng bị tác động nhiều từ dịch. Điều này có thể lý giải là do DN có quy mô lớn thường hoạt động kinh doanh đa ngành nghề, có chuỗi giá trị liên kết trong nước và quốc tế chặt chẽ, rộng hơn nhóm DN quy mô nhỏ nên chịu tác động lan tỏa nhiều hơn khi dịch bệnh bùng phát trên phạm vi toàn cầu.

Theo đó, trên cả nước có tới 92,8% DN chịu tác động bởi dịch Covid-19. Đặc biệt là có tới 94,6% số tập đoàn, tổng công ty chịu tác động tiêu cực; trong khi có hơn 91% số DN vừa và 89,7% số DN nhỏ, hơn 92% DN siêu nhỏ bị SARS-CoV-2 “tấn công”. Theo loại hình DN, có 88,7% DN FDI bị tác động tiêu cực bởi dịch Covid-19; tỷ lệ này ở khu vực DNNN và DN ngoài nhà nước chỉ thấp hơn một chút, lần lượt là 87,3% và 85,5%.

Chi trả công lao động là gánh nặng lớn nhất đối với DN

Đáng chú ý, một số ngành kinh tế có tỷ lệ DN chịu tác động tiêu cực rất lớn của dịch Covid-19, điển hình là hàng không 100%; dịch vụ lưu trú 97,1%; dịch vụ ăn uống 95,5%; hoạt động của các đại lý du lịch 95,7%; giáo dục và đào tạo 93,9%; tiếp đến là các ngành dệt, may, sản xuất da, các sản phẩm từ da, sản xuất các sản phẩm điện tử, sản xuất ô tô đều có tỷ lệ trên 90%...

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, trong số những DN chịu tác động tiêu cực bởi dịch Covid-19, hiện có tới gần 20% số DN đang phải tạm ngừng hoạt động. Trong đó, các DN quy mô siêu nhỏ có tỷ lệ tạm ngừng hoạt động cao nhất với 23,6%. Còn theo loại hình DN, khu vực DNNN và DN ngoài Nhà nước có tỷ lệ tạm ngừng hoạt động ở mức cao nhất, cùng đạt 20,3%. Theo ngành kinh tế, khu vực dịch vụ có tỷ lệ DN tạm ngừng hoạt động cao nhất với 22,1%.

Tổng cục Thống kê dự báo, nếu dịch kéo dài đến hết quý II, cả nước sẽ có khoảng 134.000 DN phải tạm ngừng hoạt động hoặc phá sản; trong đó có hơn 98.000 DN thuộc khu vực dịch vụ và gần 35.000 DN thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng phải tạm ngừng hoạt động; theo quy mô, có gần 130.000 DN nhỏ và siêu nhỏ phải tạm ngừng hoạt động.

Nếu dịch Covid-19 kéo dài đến hết quý III/2020, DN gặp khó khăn càng trở nên nghiêm trọng, ước tính sẽ có hơn 160.000 DN tạm ngừng hoặc phá sản và con số này tiếp tục tăng nhanh lên hơn 205.000 DN nếu dịch kéo dài đến hết quý IV. Có thể thấy, số DN tạm ngừng hoạt động và phá sản trong năm nay nhiều khả năng sẽ lớn hơn rất nhiều so với những năm mà nền kinh tế vận hành bình thường và không chịu tác động của dịch bệnh, chẳng hạn năm 2019 cả nước có 28.700 DN tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 16.800 DN hoàn tất thủ tục giải thể; chỉ bằng 1/3 so với kịch bản dịch kết thúc sớm nhất.

Xuất khẩu đình trệ, doanh thu giảm sâu

Khảo sát của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nặng nề đến kết quả sản xuất kinh doanh của DN. Doanh thu quý I/2020 của toàn bộ khu vực DN giảm mạnh 25,9% so với cùng kỳ năm trước và ước tính 4 tháng đầu năm 2020, doanh thu tiếp tục giảm hơn 30% so với cùng kỳ. Kéo theo đó là hàng loạt những vấn đề mà DN Việt Nam đang phải đối mặt như thiếu hụt nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, thị trường cung - cầu trong nước bị thu hẹp, hoạt động xuất, nhập khẩu bị đình trệ…

Cộng đồng DN cho biết, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp đang là vấn đề quan tâm hàng đầu. Có tới 57,7% số DN bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 cho rằng, thị trường tiêu thụ bị giảm mạnh. Đáng chú ý, trong các DN có hoạt động xuất khẩu, có tới 47,2% DN khẳng định hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được. Trong giai đoạn hiện nay, thị trường tiêu thụ trong nước và thị trường xuất khẩu đều gặp khó khăn. Đây là hệ quả tất yếu khi đại dịch bùng phát, người dân Việt Nam và các nước thuộc thị trường xuất khẩu truyền thống của nước ta (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật...) phải thực hiện giãn cách xã hội, lao động mất việc làm, thu nhập giảm sút nên nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh.

Một số ngành công nghiệp trọng điểm đang phải đối mặt với những khó khăn khi hầu hết các DN quy mô lớn phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu. Đơn cử như ngành may mặc và da giày, tỷ lệ DN không xuất khẩu được hàng hóa lần lượt là 64,5% và 65%; ngành sản xuất các sản phẩm điện tử và sản xuất ô tô cũng gặp khó khăn khi DN không xuất khẩu được hàng hóa chiếm tỷ lệ khá cao trên 45%.

Khó khăn thứ hai được cộng đồng DN đề cập tới chính là thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào bị thiếu hụt. Dịch Covid-19 càng kéo dài, nguyên vật liệu đầu vào dự trữ của DN càng cạn kiệt. Tính đến thời điểm điều tra, có 22,1% DN bị thiếu hụt nguyên liệu đầu vào. Khó khăn khác là thiếu hụt nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh; với 45,4% số DN khảo sát đang bị thiếu hụt nguồn vốn cho sản xuất. Đây cũng là tình trạng chung của toàn bộ khu vực DN.

Ông Phạm Đình Thuý cho biết thêm, dịch Covid-19 làm cho tình hình kinh tế cả nước gặp khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN bị đình trệ, bên cạnh đó DN còn chịu áp lực từ các khoản chi phí rất lớn để duy trì hoạt động, như chi phí thuê mặt bằng, trả công cho lao động, chi phí thường xuyên khác… Trong số này, chi trả công lao động được đánh giá là gánh nặng lớn nhất đối với DN.

Trong nỗ lực cải thiện tình thế khó khăn của DN trước mắt, Chính phủ đã đưa ra hàng loạt những giải pháp cấp bách hỗ trợ DN, đặc biệt là Chỉ thị 11/CT-TTg ban hành ngày 4/3/2020. Theo ông Thúy, hầu hết các nhóm giải pháp trong Chỉ thị số 11 đều được DN đánh giá tương đối phù hợp. Trong đó, giải pháp không điều chỉnh tăng giá trong quý I và quý II/2020 đối với các mặt hàng là đầu vào cho sản xuất do Nhà nước kiểm soát giá và giải pháp miễn, giãn, giảm lãi suất vay, phí ngân hàng được nhiều DN ủng hộ nhất. Các giải pháp còn lại đạt số điểm và tỷ lệ đánh giá tích cực lần lượt là miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán điện tử; tạm dừng đóng BHXH và kinh phí công đoàn; đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu và tìm thị trường mới; giảm thủ tục hành chính và chi phí logistics.

Giải pháp không điều chỉnh tăng giá trong quý I và quý II/2020 đối với các mặt hàng là đầu vào cho sản xuất do Nhà nước kiểm soát giá và giải pháp miễn, giãn, giảm lãi suất vay, phí ngân hàng được nhiều DN ủng hộ nhất

Ngọc Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.105 23.285 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.101 23.281 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.100 23.270 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.100 23.270 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.093 23..303 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.081 23.310 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.110 23.270 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.130 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.050
50.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.050
50.450
Vàng SJC 5c
50.050
50.470
Vàng nhẫn 9999
49.850
50.400
Vàng nữ trang 9999
49.500
50.250