Học, dạy nghề trong dịch Covid-19: Phải linh hoạt mới thành công

10:40 | 27/12/2021

Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm và tổng kết dự án "Đào tạo nghề nhằm hỗ trợ sinh kế bền vững cho thanh niên khởi nghiệp" giai đoạn 2 vừa diễn ra tại Hà Nội. Những chia sẻ về cách triển khai những lớp học nghề trong khi dịch Covid-19 diễn ra rất đáng quan tâm.

hoc day nghe trong dich covid 19 phai linh hoat moi thanh cong
Bà Nguyễn Bích Vượng, Giám đốc M&D

Hơn 2.200 thanh niên được đào tạo nghề, có việc làm ngay

Dự án này do Quỹ Citi tài trợ, Trung tâm Tài chính vi mô & Phát triển (M&D) thực hiện, cung cấp một số khóa đào tạo nghề và cơ hội nghề nghiệp sau đào tạo cho nam, nữ thanh niên (độ tuổi từ 18 - 32) tại một số huyện ngoại thành Hà Nội trang bị kiến thức cơ bản và kĩ năng nghề nghiệp cần thiết cho các lao động trẻ, giúp họ tìm được công việc có thu nhập ổn định, nhằm ổn định sinh kế tại địa phương, góp phần hạn chế việc di dân ra thành phố kiếm sống.

Đến nay, sau 6 triển khai, từ năm 2015 - 2021, dự án đã hỗ trợ cho 2233 thanh niên được tham gia 66 lớp đào tạo nghề và tập huấn trang bị kiến thức về quản lý tài chính, khởi sự kinh doanh, trong đó tập trung vào các nghề chính gắn liền với các làng nghề truyền thống như nghề thêu tay truyền thống tại huyện Thương Tín, nghề may tre giang đan tại huyện Chương Mỹ, Ứng Hoà, Phú Xuyên, nghề cha khảm trai sơn mài tại huyện Phú Xuyên, nghề may xuất khẩu tại huyện Thường Tín, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức…

Theo thống kê của M&D, trên 85% học viên đã có công việc ngay sau khi hoàn thành chương trình đào tạo. Các học viên lớp đã được các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh nhận vào làm việc hoặc được nhận hàng về làm gia công vừa đảm bảo có nguồn thu nhập để ổn định cuộc sống.

Bà Nguyễn Thúy Đào, Giám đốc Công ty TNHH Tranh thêu Phương Thảo, cho biết: “Sau khóa học tại xã Thắng Lợi và Văn Tự của huyện Thường tín, Công ty của bà và Công Ty TNHH Tranh thêu Hùng Anh tiếp tục tuyển dụng 70% lao động vào làm việc hoặc bao tiêu sản phẩm nhằm tạo cơ hội cho học viên được tiếp cận việc làm ngay sau khi kết thúc hoạt động đào tạo nghề, với mức thu nhập dao động từ 3,5 - 5,5 triệu đồng/người/tháng”.

hoc day nghe trong dich covid 19 phai linh hoat moi thanh cong
Một lớp học nghề trong dự án "Đào tạo nghề nhằm hỗ trợ sinh kế bền vững cho thanh niên khởi nghiệp".

Chia nhỏ lớp để học trong dịch Covid-19

Ở giai đoạn từ năm 2020 - 2021 của dự án, dù bị tác động bởi dịch Covid-19, các khoá học bị gián đoạn, bị kéo dài hơn dự kiến nhưng vẫn hoàn thành tốt chương trình đặt ra do các lớp học được bố trí linh hoạt, học viên có lúc học tập trung, chia theo nhóm, hoặc học tại các cơ sở sản xuất. Các học viên đã chấp hành tốt nội quy của lớp học và chỉ đạo của ban quản lý lớp học trong quá trình học tập.

Ông Phạm Ngọc Chính, giảng viên Chương trình ILO về khởi sự kinh doanh, cho biết: “Lớp học phải đảm bảo công tác phòng chống dịch. Các học viên phải ngồi giãn cách và hạn chế tiếp xúc. Có những lớp phải ngồi giãn cách, chia nhỏ 5 - 10 học viên/nhóm học nghề, giảng viên tốn nhiều thời gian hơn để dạy lý thuyết và kèm cặp học viên thực hành. Tuy nhiên, các học viên và giảng viên luôn cố gắng, nỗ lực để đảm bảo cho các em nắm được bài học và thực hành đầy đủ các nội dung của chương trình. Bằng sự chủ động, linh hoạt sáng tạo, sự quyết tâm và tinh thần trách nhiệm rất cao của Ban Quản lý dự án M&D, các khóa học diễn ra đảm bảo tiến độ và chất lượng bất chấp khó khăn, thách thức do tác động của đại dịch Covid-19”.

Kết quả là dù triển khai dự án trong đại dịch Covid-19 nhưng “100% học viên được học trong giai đoạn này của dự án đã đạt loại khá trở lên và được cấp chứng nhận tham gia lớp đào tạo nghề, hơn 80% học viên đạt tăng thu nhập sau khi tham gia lớp học, thu nhâp bình quân từ 5 - 7 triệu đồng/tháng với nghề thêu và mây tre đan”, bà Nguyễn Bích Vượng, Giám đốc M&D, cho biết.

Nhận xét về dự án, đại diện của Quỹ Citi, nói: “Dịch Covid-19 đã làm những dự án dạy nghề phải cầm tay chỉ việc như “Đào tạo nghề nhằm hỗ trợ sinh kế bền vững cho thanh niên khởi nghiệp” gặp khó khăn, nhưng M&D đã linh hoạt triển khai và Dự án vẫn hoạt động tốt. Đây là dự án duy nhất của Quỹ Citi trên toàn cầu đã thực hiện đúng cam kết về thời gian với nhà tài trợ. Dự án đã nhận được sự ủng hộ cao của địa phương vì giúp những thanh niên này có việc làm, doanh nghiệp địa phương có sản phẩm để xuất khẩu, đời sống của người dân được nâng cao. Quỹ Citi tự hào vì mình đã đóng góp một phần cho dự án này”.

PV

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.255 23.535 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.250 23.536 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.200
67.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.200
67.200
Vàng SJC 5c
66.200
67.220
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.400
53.000