Khẳng định vị thế dẫn đầu

08:00 | 13/01/2020

Trong tuần qua cả 4 NHTM Nhà nước lớn đã lần lượt tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2020: đầu tiên là VietinBank (ngày 7/1), tiếp đó là BIDV (ngày 9/1), Agribank (ngày 9/1) và Vietcombank (ngày 10-11/1).

khang dinh vi the dan dau Đảng bộ Vietcombank triển khai nhiệm vụ năm 2020
khang dinh vi the dan dau Khí thế mới, động lực mới
khang dinh vi the dan dau VietinBank đã đóng góp quan trọng vào thành công chung của hệ thống ngân hàng
khang dinh vi the dan dau
Ảnh minh họa

Có thể thấy trong năm 2019 vừa qua, hệ thống ngân hàng nói chung, các ngân hàng quốc doanh nói riêng chịu khá nhiều áp lực. Bên ngoài, kinh tế và thương mại toàn cầu giảm tốc mạnh, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung tiếp tục leo thang; nhiều NHTW lớn trên thế giới, đặc biệt là Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đảo chiều chính sách từ thắt chặt sang nới lỏng… khiến thị trường tài chính toàn cầu và đồng USD liên tục biến động. Trong nước, sức ép lạm phát cũng tăng mạnh trong những tháng cuối năm cùng với giá thực phẩm và xăng dầu.

Bên cạnh những khó khăn chung, bản thân các ngân hàng quốc doanh còn có những khó khăn riêng, đặc biệt là việc tăng vốn điều lệ để đáp ứng chuẩn Basel 2. Chẳng hạn như mãi tận đầu tháng 12/2019 BIDV mới được công nhận áp dụng Thông tư 41/2016/TT-NHNN, sau khi hoàn tất thương vụ bán 15% cổ phần cho KEB Hana Bank để tăng vốn điều lệ từ 34.187 tỷ đồng lên 40.220 tỷ đồng. Tuy nhiên đến nay, VietinBank và Agribank vẫn chưa có được “chứng chỉ này” cũng do vốn điều lệ vẫn “án binh bất động” trong nhiều năm qua.

Theo Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng thông tin tại buổi họp báo Chính phủ tháng 11/2019, “trong trường hợp mà không được tăng vốn thì bản thân các NHTM này sẽ phải hạn chế cấp tín dụng và thậm chí có thể phải ngừng cấp tín dụng...”. Lẽ đương nhiên, điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng quốc doanh khi mà nguồn thu từ tín dụng vẫn đang chiếm một tỷ trọng khá lớn.

Thế nhưng nhờ sự linh hoạt chuyển hướng từ hoạt động nên các ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì được hiệu quả kinh doanh rất cao, qua đó tiếp tục khẳng định vị thế đầu tàu, dẫn dắt hệ thống ngân hàng trong nước.

Điều đó được thể hiện qua việc tổng tài sản của các ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Trong đó, với tổng tài sản đạt gần 1.459 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% so với năm 2018, BIDV  đang dẫn đầu hệ thống về quy mô tài sản. Trong bảng xếp hạng 500 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương năm 2019 của Asian Banker, BIDV đang đứng thứ 138, tăng 11 bậc so với năm 2018. Tuy nhiên bảng xếp hạng này được thực hiện trước khi BIDV tăng vốn điều lệ lên hơn 40.200 tỷ đồng, có nghĩa hiện thứ hạng của BIDV có thể còn cao hơn rất nhiều.

Điều quan trọng hơn là hiệu quả kinh doanh của 4 ngân hàng quốc doanh này tiếp tục được cải thiện, thể hiện qua con số lợi nhuận và ROA, ROE tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ. Nổi bật là Vietcombank hiện vẫn đang dẫn đầu hệ thống với 23.155 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 26% so với năm 2018; trong đó, thu thuần từ hoạt động phi tín dụng chiếm tỷ trọng 39,2%. Các chỉ số ROA và ROE của Vietcombank lần lượt đạt trung bình 1,59% và 25,51%, tăng mạnh so với năm 2018 và cao hơn mặt bằng chung các TCTD. Hiện Vietcombank đang đứng ở vị trí 17 trong số 500 ngân hàng mạnh nhất khu vực, cho dù quy mô tài sản của ngân hàng này chỉ đứng ở vị trí 166 trong bảng xếp hạng 500.

Hay như VietinBank, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về tín dụng do không tăng được vốn điều lệ, thế nhưng nhờ kịp thời chuyển hướng kinh doanh sang dịch vụ phi tín dụng nên ngân hàng cũng kết thúc năm 2019 với con số lợi nhuận trước thuế riêng lẻ đạt gần 11,5 nghìn tỷ đồng; trong đó thu từ dịch vụ tăng gần 43% so với năm 2018.

Hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng quốc doanh còn được thể hiện qua con số nợ xấu giảm mạnh. Hiện tỷ lệ nợ xấu của các nhà băng này đều nằm dưới quy định của NHNN, nhiều ngân hàng còn tất toán toàn bộ nợ xấu đã bán cho VAMC.

Không chỉ vậy, vai trò đầu tàu dẫn dắt hệ thống của các ngân hàng quốc doanh còn được thể hiện qua việc luôn đi tiên phong trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Chính phủ cũng như của NHNN. Có thể nói các ngân hàng quốc doanh chính là một công cụ, là cánh tay nối dài để NHNN triển khai các chính sách tiền tệ đến với thị trường. Đơn cử như trong năm qua, các ngân hàng quốc doanh đã 3 lần tiên phong thực hiện giảm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của NHNN, từ đó tạo hiệu ứng lan tỏa đến toàn hệ thống.

Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng cũng ghi nhận và đánh giá cao những kết quả mà các ngân hàng quốc doanh đã đạt được trong năm qua, đặc biệt là việc phát huy vai trò đầu tàu, dẫn dắt hệ thống của các ngân hàng này, qua đó góp phần vào thắng lợi chung của Ngành, của nền kinh tế.

Những kết quả của năm 2019 cũng chính là điểm tựa để các ngân hàng quốc doanh tiếp tục khẳng định vị thế đầu tàu của mình trong năm 2020. Phát biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2020, lãnh đạo của tất cả các ngân hàng này đều khẳng định sẽ tiếp tục chủ động đổi mới, sáng tạo, nắm bắt cơ hội thị trường, hiện thực hóa các mục tiêu trong chiến lược phát triển, tiếp tục khẳng định vai trò là ngân hàng trụ cột, chủ lực của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam, hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Đó cũng là kỳ vọng của Chính phủ, NHNN đối với các ngân hàng quốc doanh.

Anh Thư

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.090 23.270 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.078 23..288 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.110 23.270 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.200
50.600
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.200
50.620
Vàng SJC 5c
50.200
50.600
Vàng nhẫn 9999
49.850
50.400
Vàng nữ trang 9999
49.550
50.300