Khảo sát mới của ACCA và IMA: Đầu năm 2021 chỉ số niềm tin vẫn mong manh

18:33 | 01/03/2021

Báo cáo Khảo sát Điều kiện kinh tế toàn cầu (GECS) mới nhất được ACCA (the Association of Chartered Certified Accountants – Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh Quốc) và IMA® (Institute of Management Accountants – Hiệp hội Kế toán Quản trị Hoa Kỳ) công bố hôm nay cho thấy niềm tin vào nền kinh tế toàn cầu trong Quý 4 năm 2020 không khả quan và sẽ tiếp tục mong manh đầu năm 2021.    

khao sat moi cua acca va ima dau nam 2021 chi so niem tin van mong manh
Ảnh minh họa - Nguồn: TTXVN

Khảo sát GECS là cuộc khảo sát kinh tế thường xuyên lớn nhất với sự tham gia của hơn 3.000 kế toán viên và chuyên gia tài chính cao cấp trên thế giới. Khảo sát lần này đã xác định được quy mô thực sự của cuộc suy thoái toàn cầu do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19.

Kết quả khảo sát mới nhất chỉ ra rằng triển vọng kinh tế toàn cầu đã xấu đi kể từ khi hoàn thành lần khảo sát trước đây vào ngày 8/12. Để tải về báo cáo đầy đủ, vui lòng truy cập tại đây hoặc https://www.imanet.org/insights-and-trends/global-economic-conditions-survey?ssopc=1.

Cuộc khảo sát chỉ ra rằng năm 2020 nền kinh tế toàn cầu suy giảm khoảng 4,5% - mức suy giảm mạnh nhất trong vài thập kỷ gần đây. Mặc dù đã phục hồi một phần sau khi bị đình trệ vì giãn cách xã hội trong làn sóng COVID thứ nhất vào nửa đầu năm 2020, nhưng nhiều nền kinh tế lại tiếp tục bị suy yếu khi bắt buộc phải tiến hành giãn cách xã hội trong bối cảnh làn sóng COVID thứ hai. Cuộc khảo sát dự đoán kinh tế sẽ phục hồi ổn định trong năm nay, nhưng lòng tin của người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng bởi sự bất định kéo dài, dự kiến GDP toàn cầu không thể phục hồi về mức trước khủng hoảng cho đến giữa năm 2022.

Các phát hiện trong Quý 4 năm 2020 còn cho thấy: Các chỉ số về đơn đặt hàng, việc làm và đầu tư xây dựng cơ bản toàn cầu đã được cải thiện ở mức khiêm tốn, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức trước khủng hoảng vào thời điểm Quý 4 năm 2019. Các chỉ số “quan ngại cao” - lo ngại về việc khách hàng và nhà cung cấp bị phá sản - đã giảm xuống đôi chút trong Quý 4 năm 2020 nhưng vẫn ở mức cao, phản ánh rõ mức độ không chắc chắn của triển vọng kinh tế toàn cầu vào đầu năm 2021.

Quan ngại về lạm phát là không đáng kể, cùng với lo ngại về chi phí giảm xuống mức thấp chưa từng có trong lịch sử.

Theo khảo sát, ở Bắc Mỹ, chỉ số niềm tin giảm sau khi tăng mạnh trong Quý 3. Ngược lại, chỉ số niềm tin ở Trung Đông được cải thiện đáng kể, có thể là do sự phục hồi của giá dầu.

Hơn 50% người trả lời khảo sát tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Bắc Mỹ và Nam Á kỳ vọng kinh tế sẽ phục hồi bền vững trong nửa cuối năm nay.

Tại Bắc Mỹ, chỉ số niềm tin giảm trong Quý 4, tăng mạnh nhất trong Quý 3. Các chỉ số về đơn hàng và chi tiêu xây dựng cơ bản ít thay đổi trong Quý 4 và thấp hơn nhiều so với mức trước khủng hoảng cùng kỳ năm trước. Chỉ số việc làm cải thiện đáng kể trong Quý 4, cho thấy thị trường việc làm phục hồi tương đối tốt kể từ những tuần đầu của đại dịch. Nhìn chung, kết quả khảo sát GECS khu vực Bắc Mỹ cho thấy kinh tế sẽ tiếp tục phục hồi vào đầu năm 2021.

Năm ngoái, Mỹ là một trong những nền kinh tế phát triển có tỷ lệ suy thoái thấp nhất - khoảng 3,5%. Một gói tài khóa lớn, tương đương khoảng 10% GDP, cùng với việc nới lỏng chính sách tiền tệ, bao gồm cắt giảm lãi suất và gia tăng đáng kể nới lỏng định lượng, đã giúp giảm nhẹ đà suy thoái kinh tế.

Tuy nhiên, đến cuối năm 2020, nền kinh tế bị giảm đà và số lượng các ca nhiễm COVID tăng nhanh. Báo cáo khảo sát cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng khiêm tốn trong Quý 4 năm 2020 và có thể sẽ gặp phải một số khó khăn mới đầu năm 2021.

Ông Lawson cho biết: “Có khá nhiều rủi ro trong năm nay. Triển vọng kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến của vi-rút corona và các biến thể phát sinh, tỷ lệ lây nhiễm cũng như tốc độ và hiệu quả của các chương trình vắc-xin. Khả năng có xác suất cao nhất là nền kinh tế suy yếu vào đầu năm 2021 khi tỷ lệ lây nhiễm tăng cao, và sẽ phục hồi vào cuối năm khi các chương trình vắc-xin có kết quả. Rất khó đoán định được thời điểm của những diễn biến này. Ngoài ra, sự xuất hiện của các biến thể kháng vắc-xin của vi-rút corona, những tác dụng phụ không mong muốn của vắc-xin và tỷ lệ sử dụng vắc-xin thấp cũng là những rủi ro y tế có thể làm thay đổi lộ trình phục hồi."

 

Hoạt động khảo sát Quý 4 năm 2020 được diễn ra từ ngày 20/11/2020 đến ngày 8/12/2020, nhận được 3.086 phản hồi từ các thành viên ACCA và IMA, trong đó có hơn 300 Giám đốc Tài chính.

 

ĐN

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.970 23.170 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.919 23.169 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.956 23.178 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.963 23.163 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
55.500
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
55.480
Vàng SJC 5c
55.100
55.500
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.300
Vàng nữ trang 9999
51.300
52.000