Chỉ số kinh tế:
Ngày 6/11/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.615 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.385/26.845 đồng/USD. Hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ tiếp tục tăng trưởng trong tháng 10/2026. So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,3%, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng 3,7%, đạt 122,03 tỷ USD; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 1,0%, đạt 695,5 nghìn tỷ đồng. Khách quốc tế đến Việt Nam tăng 4,9%, đạt 1,85 triệu lượt; số doanh nghiệp thành lập mới tăng 8,7%, đạt gần 12,6 nghìn doanh nghiệp. Trong khi đó, CPI tăng 0,20% so với tháng trước. Tính đến ngày 31/10/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74,0% so với cùng kỳ năm trước; vốn FDI thực hiện trong 10 tháng ước đạt 24,08 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước.

Khi những triền đồi thức giấc - ​​​​​​​Kỳ 1: Bắt đầu từ sự thay đổi của người nông dân

Ghi chép của Công Thái
Ghi chép của Công Thái  - 
Trên những triền đồi đỏ bazan của Gia Lai, những vùng nguyên liệu cà phê, chanh dây, sầu riêng đang ngày một xanh hơn nhờ sự chung sức của nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng. Từ những thay đổi trong cách nghĩ, cách làm đến sự tiếp sức của dòng vốn ngân hàng, các chuỗi liên kết sản xuất đang từng bước hình thành, tạo nền tảng cho một nền nông nghiệp hiện đại, nâng cao giá trị nông sản và mở rộng cánh cửa xuất khẩu cho nông sản Gia Lai.
aa

Khi người nông dân thay đổi cách làm

Giữa cánh đồng bắp giống đang xanh mướt ở xã Ia Le, ông Nguyễn Tấn Phát cẩn thận kiểm tra từng hàng cây vừa bước vào giai đoạn phát triển. Ít ai biết rằng vài năm trước, gia đình ông Phát vẫn loay hoay với hồ tiêu và khoai môn, thu nhập bấp bênh theo từng mùa giá cả.

Từ khi tham gia mô hình liên kết sản xuất bắp giống giữa Hợp tác xã (HTX) Vinh Phát (xã Ia Le, Gia Lai) và Công ty TNHH Syngenta Việt Nam triển khai, nỗi lo đầu ra của nông dân dần được thay thế bằng sự chủ động trong sản xuất. Người nông dân không còn canh cánh chuyện tìm nơi tiêu thụ sản phẩm sau thu hoạch mà tập trung chăm sóc cây trồng theo đúng quy trình kỹ thuật.

Khi những triền đồi thức giấc - ​​​​​​​Kỳ 1: Bắt đầu từ sự thay đổi của người nông dân
Khi tham gia mô hình liên kết sản xuất nỗi lo đầu ra của nông dân dần được thay thế bằng sự chủ động trong sản xuất

“Vụ đầu tiên tôi lãi hơn 70 triệu đồng/ha. Những vụ sau dù thời tiết không thuận lợi nhưng vẫn có lợi nhuận khoảng 50 triệu đồng/ha. Điều quan trọng nhất là sản phẩm được bao tiêu nên rất yên tâm”, ông Phát chia sẻ.

Câu chuyện của ông Phát cũng là câu chuyện đang diễn ra trên nhiều vùng đất nông nghiệp của Gia Lai. Từ sản xuất nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm, ngày càng nhiều nông dân tham gia các chuỗi liên kết với hợp tác xã và doanh nghiệp để nâng cao giá trị nông sản, giảm thiểu rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Gia Lai từ lâu được xem là một trong những thủ phủ nông nghiệp của Tây Nguyên. Với lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng và diện tích đất sản xuất lớn, địa phương đang sở hữu nhiều loại cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao.

Nếu như trước đây sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của từng hộ dân thì nay, các vùng nguyên liệu tập trung đang từng bước hình thành theo hướng chuyên canh, gắn với chế biến và xuất khẩu.

Sự thay đổi ấy không còn là những mô hình đơn lẻ mà đang trở thành xu hướng chung trên toàn tỉnh. Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Gia Lai, toàn tỉnh hiện có 217 chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Hơn 251.300ha cây trồng đang tham gia liên kết sản xuất - tiêu thụ với sự đồng hành của 98 HTX, 72 tổ hợp tác, 47 nông hội và 72 doanh nghiệp. Những con số ấy phản ánh một sự chuyển động mạnh mẽ trong tư duy sản xuất nông nghiệp của địa phương.

Trên những triền đồi trải dài từ Đăk Đoa, Ia Grai đến Chư Prông, Mang Yang, các vùng nguyên liệu cà phê, chanh dây, sầu riêng đang ngày càng mở rộng. Riêng cây cà phê hiện có hơn 108.000ha, sản lượng đạt trên 340.000 tấn mỗi năm. Đáng chú ý, hơn 56.000ha đã được sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế như 4C, Rainforest Alliance và hữu cơ.

Đối với cây chanh dây, toàn tỉnh Gia Lai có khoảng 5.650ha với sản lượng hơn 213.000 tấn/năm. Đến nay, ngành nông nghiệp đã cấp 48 mã số vùng trồng và 6 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Sản phẩm chanh dây Gia Lai hiện có mặt tại nhiều thị trường như: Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước châu Âu.

Trong khi đó, diện tích sầu riêng đã vượt con số 9.200ha, sản lượng gần 57.700 tấn mỗi năm. Toàn tỉnh đã được cấp 67 mã số vùng trồng với diện tích hơn 1.500ha cùng 6 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu chính ngạch.

Đằng sau những con số ấy không chỉ là sự gia tăng về diện tích hay sản lượng mà còn là quá trình hình thành các vùng nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Từ cánh đồng bắp giống đến những chuỗi liên kết hiệu quả

Một trong những mô hình tiêu biểu cho sự thay đổi tư duy sản xuất là HTX Vinh Phát tại xã Ia Le. Được thành lập năm 2019 với 27 thành viên, HTX ban đầu chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thu mua dê và bò giống. Tuy nhiên, bước ngoặt lớn đến vào giữa năm 2023 khi HTX liên kết với Công ty TNHH Syngenta Việt Nam triển khai mô hình sản xuất bắp giống.

Khi những triền đồi thức giấc - ​​​​​​​Kỳ 1: Bắt đầu từ sự thay đổi của người nông dân
Mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị đang lan tỏa tại nhiều địa phương trong tỉnh Gia Lai.

Theo thỏa thuận hợp tác, doanh nghiệp cung cấp 100% giống, hỗ trợ kỹ thuật canh tác và cho người dân vay vốn đầu tư sản xuất không tính lãi. Nhờ đó, nhiều hộ dân mạnh dạn tham gia mô hình. Ông Trương Viết Thảo, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc HTX Vinh Phát cho biết, mỗi năm HTX liên kết với nông dân sản xuất khoảng 200ha bắp giống, tương đương hai vụ canh tác.

“Trước khi xuống giống, bà con nông dân được tập huấn kỹ thuật ngay tại đồng ruộng. Trong quá trình sản xuất luôn có kỹ sư nông nghiệp theo dõi, hướng dẫn xử lý sâu bệnh. Nhờ đó năng suất đạt từ 4-7 tấn/ha, nhiều hộ đạt tới 9-10 tấn/ha”, ông Thảo cho biết.

Sự tham gia của doanh nghiệp giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất. Thay vì chỉ quan tâm đến năng suất, các nông hộ bắt đầu chú trọng hơn đến quy trình kỹ thuật, chất lượng sản phẩm và yêu cầu của thị trường.

Nếu Ia Le nổi bật với mô hình bắp giống thì tại Đăk Đoa, sự thay đổi đang diễn ra trên những đồi cà phê bạt ngàn. HTX Sản xuất - Thương mại và Dịch vụ nông nghiệp Glar được thành lập năm 2020 với 15 thành viên, chủ yếu là đồng bào Bana. Đến nay, HTX đã liên kết với hơn 130 hộ dân tham gia sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn 4C.

Theo ông Uê, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc HTX, thời gian đầu việc thay đổi tập quán canh tác của người dân không hề đơn giản. Bà con quen làm theo kinh nghiệm nên còn e ngại. Nhưng khi thấy hiệu quả thực tế, mọi người dần hiểu rằng muốn sản xuất bền vững phải dựa vào khoa học kỹ thuật.

HTX khuyến khích sử dụng phân hữu cơ, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật, không sử dụng thuốc diệt cỏ và áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước. Nhờ đó, năng suất cà phê đạt từ 3,5-5 tấn nhân/ha, cao hơn khoảng 1 tấn so với trước đây.

Ông Yơu, một hộ dân tham gia mô hình cho biết, trước đây gia đình chủ yếu sử dụng phân hóa học nên đất ngày càng bạc màu. Sau khi áp dụng quy trình sản xuất mới, cây phát triển khỏe hơn, chi phí giảm và sản lượng tăng đáng kể.

Hiện mỗi năm HTX cung cấp khoảng 1.500 tấn cà phê nhân đạt chuẩn cho doanh nghiệp liên kết. Đồng thời đầu tư hệ thống chế biến ướt nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, hướng tới xây dựng thương hiệu cà phê chất lượng cao.

Liên kết để đi xa hơn

Không chỉ tại xã Ia Le hay Đăk Đoa, mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị đang lan tỏa tại nhiều địa phương trong tỉnh Gia Lai. HTX Nông nghiệp và Kinh doanh dịch vụ Kon Gang hiện liên kết với 185 hộ dân trên diện tích hơn 320ha cà phê. Khi tham gia chuỗi liên kết, người dân được tập huấn kỹ thuật sản xuất theo tiêu chuẩn 4C, đồng thời được hỗ trợ kết nối tiêu thụ với doanh nghiệp.

Theo ông Trịnh Khắc Dương, Giám đốc HTX, sản phẩm cà phê đạt tiêu chuẩn được doanh nghiệp thu mua với giá cao hơn thị trường, góp phần nâng cao thu nhập và tạo động lực để người dân duy trì sản xuất theo hướng bền vững.

Khi những triền đồi thức giấc - ​​​​​​​Kỳ 1: Bắt đầu từ sự thay đổi của người nông dân
Những chuỗi liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp không chỉ giúp nâng cao giá trị nông sản mà còn góp phần hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn

Những mô hình liên kết ấy đang cho thấy hiệu quả rõ nét khi giúp người dân giảm thiểu rủi ro, ổn định đầu ra và từng bước tham gia vào các chuỗi giá trị nông sản hiện đại.

Từ những cánh đồng bắp giống ở Ia Le đến các vùng cà phê đạt chuẩn ở Đăk Đoa, từ những vùng chanh dây xuất khẩu đến các vùng sầu riêng đang được cấp mã số vùng trồng, một diện mạo mới của nông nghiệp Gia Lai đang dần hiện rõ. Đó là nền nông nghiệp được xây dựng trên nền tảng liên kết, tiêu chuẩn và trách nhiệm thay vì sản xuất manh mún, tự phát như trước đây.

Những chuỗi liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp không chỉ giúp nâng cao giá trị nông sản mà còn góp phần hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, để những chuỗi liên kết ấy phát triển bền vững, người nông dân không chỉ cần kỹ thuật hay thị trường tiêu thụ. Đằng sau những vùng nguyên liệu đang lớn lên từng ngày còn có một nguồn lực quan trọng khác. Đó là dòng vốn tín dụng.

Chính nguồn lực ấy đang tiếp thêm động lực để nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, mở rộng sản xuất, hướng tới những mục tiêu xa hơn trên hành trình đưa nông sản Gia Lai vươn ra thế giới.

(Còn nữa: Kỳ 2 - Dòng vốn "gieo mầm" cho những mùa quả ngọt)

Ghi chép của Công Thái

Tin liên quan

Tin khác

Cà phê Việt: 70% sản lượng còn thiếu dữ liệu truy xuất

Cà phê Việt: 70% sản lượng còn thiếu dữ liệu truy xuất

Khoảng 70% sản lượng cà phê Việt Nam vẫn lưu thông tin qua các kênh truyền thống, thiếu dữ liệu truy xuất nguồn gốc. Trước yêu cầu ngày càng chặt chẽ của thị trường quốc tế, ngành cà phê được khuyến nghị cần đẩy nhanh chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực quản trị.
Đắk Lắk phát triển vùng cà phê bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu

Đắk Lắk phát triển vùng cà phê bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu

Với hơn 217.000ha cà phê, sinh kế của hàng trăm nghìn hộ dân và giá trị xuất khẩu gần 900 triệu USD mỗi năm, Đắk Lắk đang đẩy mạnh các giải pháp phát triển ngành hàng theo hướng bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Trong đó, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, quản lý tài nguyên hiệu quả và số hóa truy xuất nguồn gốc được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm.
Trụ cột khoa học công nghệ nâng tầm giá trị nông sản

Trụ cột khoa học công nghệ nâng tầm giá trị nông sản

Sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, phát triển nông nghiệp hữu cơ và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao đang mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp Hà Nội. Không chỉ nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và gia tăng giá trị nông sản, các mô hình này còn giúp người dân cải thiện thu nhập, chủ động hơn trước thời tiết cực đoan. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả trên diện rộng, thành phố cần kết hợp đổi mới phương thức canh tác với tổ chức sản xuất, phát triển thị trường và xây dựng chuỗi liên kết bền vững.
Bao bì sinh học: Lời giải xanh cho nông sản

Bao bì sinh học: Lời giải xanh cho nông sản

Để phát triển kinh tế tuần hoàn và hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, việc ứng dụng khoa học, công nghệ trong bảo quản, bao gói nông sản sau thu hoạch đang trở thành một hướng đi mang tính chiến lược.
Bài toán tỷ USD phía sau những chuyến hàng nông sản

Bài toán tỷ USD phía sau những chuyến hàng nông sản

Xuất khẩu rau quả tiếp tục tăng trưởng, nhưng tổn thất sau thu hoạch và chi phí logistics vẫn làm giảm sức cạnh tranh của nông sản Việt. Đầu tư công nghệ bảo quản, hoàn thiện chuỗi lạnh và tổ chức lại sản xuất đang mở thêm cơ hội tiếp cận thị trường xa, đồng thời đặt ra bài toán vốn và hiệu quả đầu tư.
Nông nghiệp công nghệ cao: Vì sao mô hình hiệu quả vẫn khó nhân rộng?

Nông nghiệp công nghệ cao: Vì sao mô hình hiệu quả vẫn khó nhân rộng?

Từ nhà kính, cảm biến đến thiết bị bay không người lái, công nghệ đang thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, để các mô hình hiệu quả không dừng ở quy mô thử nghiệm, doanh nghiệp và nông dân phải giải được bài toán chi phí đầu tư, nhân lực, thị trường tiêu thụ và dòng tiền hoàn vốn.
Cà phê cùng nông dân: Lắng nghe để tháo gỡ vướng mắc

Cà phê cùng nông dân: Lắng nghe để tháo gỡ vướng mắc

Không cần cuộc họp nặng tính hành chính tròng hội trường, chương trình “Cà phê cùng nông dân” của phường Hòa Xuân (TP. Đà Nẵng) mở ra không gian gần gũi để nông dân trực tiếp chia sẻ khó khăn, kiến nghị với lãnh đạo địa phương. Từ những câu chuyện đời thường, nhiều vấn đề về đất sản xuất, hạ tầng, thủy lợi và chuyển đổi sinh kế được đưa ra trao đổi, tìm hướng tháo gỡ.
Đưa OCOP thành trải nghiệm du lịch

Đưa OCOP thành trải nghiệm du lịch

Phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn cần chuyển từ bán nông sản sang thiết kế trải nghiệm, kết nối sản phẩm OCOP (mỗi làng một sản phẩm) với văn hóa bản địa và xây dựng chuỗi giá trị để tăng chi tiêu, kéo dài thời gian lưu trú, bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân.
Công cuộc tái định hình chuỗi cung ứng nông sản

Công cuộc tái định hình chuỗi cung ứng nông sản

Khi các tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc ngày càng định hình thương mại toàn cầu, năng lực cạnh tranh của nông, lâm sản không còn chỉ nằm ở giá cả hay năng lực cung ứng. Từ quy định của Liên minh châu Âu (EU) về các sản phẩm không gây phá rừng (EUDR) đến những yêu cầu mới tại Vương quốc Anh, sức ép minh bạch cũng mở ra cơ hội để Việt Nam chuẩn hóa chuỗi giá trị và nâng vị thế nông sản trên thị trường quốc tế.
Nông nghiệp công nghệ cao: Cuộc đua không chỉ dành cho người nhiều vốn

Nông nghiệp công nghệ cao: Cuộc đua không chỉ dành cho người nhiều vốn

Từ công nghệ sinh học, kinh tế tuần hoàn, AI, cảm biến đến truy xuất nguồn gốc, cuộc đua nông nghiệp công nghệ cao đang chuyển từ “có ứng dụng công nghệ” sang chứng minh hiệu quả đầu tư. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp tiên phong không chỉ cần năng lực tài chính, công nghệ mà còn phải giải được bài toán thị trường, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng nhân rộng mô hình.