Hợp tác xã nông nghiệp loay hoay trước bài toán vốn, công nghệ và đầu ra
| Hỗ trợ nâng cao năng lực hợp tác xã nông nghiệp Phấn đấu đến năm 2025, có từ 60% hợp tác xã nông nghiệp hoạt động tốt, khá trở lên HTX kiểu mới thúc đẩy chuyển đổi sang kinh tế nông nghiệp hiện đại |
![]() |
| Quang cảnh diễn đàn |
Thiếu vốn, yếu quản trị, liên kết chưa bền
Ngày 30/10, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức diễn đàn “Xúc tiến phát triển hợp tác xã nông nghiệp gắn với chuyển đổi số, đầu tư công nghệ thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị và xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030”.
Phát biểu khai mạc, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho biết, nông nghiệp Việt Nam chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang kinh tế nông nghiệp, tổ chức theo vùng nguyên liệu và chuỗi giá trị. Dù nông sản đã khẳng định vị thế quốc tế, sản xuất trong nước vẫn phân tán; liên kết giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp chưa bền vững. Quản trị, công nghệ và hạ tầng còn hạn chế, người nông dân chưa được hưởng giá trị tương xứng.
Theo ông Thịnh, quy mô nhỏ khiến HTX khó tích tụ nguồn lực, thiếu vốn đầu tư máy móc, kho lạnh, sơ chế và bảo quản. Đơn vị thiếu cán bộ chuyên môn để lập phương án kinh doanh, đàm phán hợp đồng và kiểm soát chất lượng. Đầu ra thiếu ổn định cũng khiến HTX khó tiếp cận tín dụng.
Theo đại diện Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính), Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 đặt mục tiêu đến năm 2030 có 45.000 HTX với 8 triệu thành viên, 140.000 tổ hợp tác và 340 liên hiệp HTX. Ít nhất 60% HTX phấn đấu hoạt động khá, tốt; trên 5.000 HTX và 500 tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao; khoảng 50% HTX nông nghiệp liên kết doanh nghiệp theo chuỗi.
Chính sách phát triển HTX tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nâng cao năng lực tự chủ, tăng khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường, đồng thời cải cách thủ tục hành chính. Trọng tâm giai đoạn tới là nâng chất lượng quản trị, thúc đẩy chuyển đổi số và liên kết chuỗi. Tuy nhiên, khoảng cách giữa mục tiêu và năng lực thực tế vẫn đáng kể, nhất là tại địa bàn nông thôn, miền núi, nơi nhân lực chuyên môn và điều kiện đầu tư còn thiếu.
Ông Nguyễn Tiến Định, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho biết, khu vực HTX nông nghiệp đã chuyển biến tích cực về quy mô, quản trị và phương thức hoạt động. Trong liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản, cả nước có 2.938 dự án, kế hoạch được phê duyệt theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, với sự tham gia của 2.412 HTX, 1.305 doanh nghiệp và hơn 211.000 hộ nông dân. Trong đó, 2.331 dự án, kế hoạch do HTX nông nghiệp chủ trì.
Chương trình thí điểm vùng nguyên liệu giai đoạn 2022 - 2025 tại 11 tỉnh hình thành khoảng 169.800 ha, trong đó gần 121.000 ha liên kết doanh nghiệp, chiếm 71,2%; có hơn 90 chuỗi liên kết với 27 doanh nghiệp và 393 HTX. Hạ tầng sơ chế, bảo quản, chế biến thiếu đồng bộ, hạn chế khả năng đáp ứng đơn hàng lớn.
Tháo gỡ thủ tục, nâng năng lực tổ chức sản xuất
Một khó khăn khác xuất phát từ thay đổi trong tổ chức quản lý nhà nước. Ông Ngô Sỹ Đạt, Viện Kinh tế và Thể chế nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, từ ngày 01/7/2025, Việt Nam vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm cấp tỉnh và cấp xã, đồng thời kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện. Sau sắp xếp, đến tháng 10/2026, cả nước có 34 tỉnh, thành phố và 3.321 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 2.599 xã, 709 phường và 13 đặc khu.
![]() |
| Đại diện Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) phát biểu |
Việc thay đổi bộ máy đòi hỏi tổ chức lại quản lý nhà nước về kinh tế tập thể và HTX nông nghiệp. Sau một năm, chuyển giao thẩm quyền chưa đồng nghĩa năng lực thực thi ở cơ sở đã được bảo đảm. Nhân lực cấp xã với những hạn chế nhất định về chuyên ngành, dữ liệu và chuyển đổi số vẫn là điểm nghẽn.
Theo ông Đạt, khó khăn tập trung ở ba nhóm: thủ tục pháp lý, hành chính; đáp ứng yêu cầu chất lượng, truy xuất nguồn gốc; và duy trì liên kết sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu. Nguyên nhân đến từ nguồn lực HTX hạn chế và phối hợp giữa các cơ quan chưa đồng bộ.
HTX có thể lúng túng khi đăng ký, đăng ký lại, hoàn thiện hồ sơ hoặc xác định cơ quan tiếp nhận. Quy trình, biểu mẫu và đầu mối thiếu thống nhất khiến đơn vị đi lại nhiều lần, phát sinh chi phí. Yêu cầu an toàn thực phẩm, tự công bố và truy xuất nguồn gốc làm tăng gánh nặng với HTX thiếu cán bộ chuyên trách.
Ông Đạt kiến nghị, công khai quy trình đăng ký, đăng ký lại HTX, hồ sơ, biểu mẫu và cách nộp trực tuyến; biểu mẫu phải phù hợp Thông tư số 43/2025/TT-BTC. Cấp tỉnh hướng dẫn nghiệp vụ, hỗ trợ trường hợp phức tạp; cấp xã công khai đầu mối, kiểm tra hồ sơ và nêu nội dung cần bổ sung. Vướng mắc vượt thẩm quyền cần chuyển đúng cơ quan xử lý.
Về an toàn thực phẩm, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh cần hướng dẫn theo nhóm sản phẩm, làm rõ trường hợp phải cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện, trường hợp được miễn, hồ sơ và cơ quan giải quyết theo Nghị định số 15/2018/NĐ-CP. Cấp xã hướng dẫn HTX đến đúng đầu mối, không tự đặt thêm yêu cầu. Với bản tiêu chuẩn, chất lượng HTX tự công bố, UBND cấp tỉnh cần công khai cơ quan tiếp nhận, hướng dẫn biểu mẫu và theo dõi hồ sơ; phân biệt trách nhiệm của cơ sở với việc tiếp nhận, lưu trữ hoặc công khai của cơ quan quản lý.
Theo ông Đạt, tiêu chuẩn, chất lượng và truy xuất nguồn gốc cũng là rào cản. Muốn vào hệ thống phân phối hiện đại hoặc xuất khẩu, HTX phải kiểm soát quy trình, ghi chép dữ liệu và bảo đảm chất lượng đồng đều. Nhiều HTX thiếu thiết bị, nhân lực kỹ thuật và kinh phí chứng nhận, nên khó duy trì sản lượng ổn định.
Cục trưởng Lê Đức Thịnh cho rằng, vùng nguyên liệu phải là không gian kinh tế có HTX làm nòng cốt, doanh nghiệp liên kết, quy trình thống nhất và đầu ra ổn định. Chuyển đổi số phải phục vụ quản trị, từ dữ liệu thành viên, diện tích, sản lượng đến chất lượng, chi phí, hợp đồng và tiêu thụ. Đầu tư thiết bị, phần mềm thiếu dữ liệu và nhân lực vận hành sẽ khó hiệu quả.
HTX cần chuyển từ vai trò cung ứng dịch vụ sang chủ động tổ chức sản xuất, điều phối liên kết và kết nối thị trường. Cần xây dựng vùng nguyên liệu phù hợp, áp dụng tiêu chuẩn thống nhất và gắn sản xuất với nhu cầu thị trường. Chính sách hỗ trợ nên chuyển từ đầu vào sang nâng năng lực, hiệu quả đầu ra, kết nối Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và cơ sở nghiên cứu.
Mục tiêu cuối cùng, theo ông Thịnh, không chỉ là tăng số HTX tham gia chuỗi giá trị mà phải hình thành những đơn vị đủ năng lực tổ chức sản xuất, quản trị vùng nguyên liệu, kết nối thị trường và nâng thu nhập thành viên. Tháo gỡ khó khăn về vốn, quản trị, hạ tầng, thủ tục và công nghệ sẽ giúp HTX trở thành mắt xích mạnh hơn trong chuỗi nông sản.
Tin liên quan
Tin khác
Việt Nam - Bulgaria: Đánh thức tiềm năng, mở rộng dư địa thương mại
TP. Hồ Chí Minh gỡ vướng thủ tục đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp
Sun Group và câu chuyện phía sau những địa chỉ ngày càng 'đắt giá'
Từ cửa hàng nhỏ đến 'điểm hẹn' thương hiệu
Doanh nghiệp công nghệ thông tin có thực sự đánh mất doanh số vào tay AI?
Đề xuất chính sách đặc thù về xử lý tiền thuế nợ, tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế
Một lô hàng, nhiều cửa chờ
Đề xuất chính sách đặc thù với người nộp thuế ngừng hoạt động kinh doanh nhưng chưa đóng mã số thuế
Chính sách hỗ trợ ngày càng nhiều, vì sao doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó tiếp cận?


