Kinh tế Trung Quốc ảm đạm

08:48 | 05/09/2022

Nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại trong quý II do các biện pháp đóng cửa hoặc hạn chế để kiểm soát dịch Covid-19 lan rộng đã ảnh hưởng đến nhu cầu và hoạt động kinh doanh, trong khi thị trường bất động sản bị trì trệ từ khủng hoảng này sang khủng hoảng khác.

Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) vừa công bố, chỉ số nhà quản lý mua hàng sản xuất chính thức (PMI) của nước này đã tăng lên 49,4 điểm trong tháng 8 từ mức 49,0 điểm của tháng 7 và cao hơn so với mức 49,2 điểm theo dự báo của các nhà phân tích được Reuters khảo sát.

Tuy nhiên việc chỉ số này tiếp tục chạy dưới ngưỡng 50 điểm có nghĩa là sản xuất vẫn bị thu hẹp cho dù mức độ có nhỏ hơn so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, cộng thêm đợt nắng nóng tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ và lĩnh vực bất động sản đang gặp khó khăn.

kinh te trung quoc am dam
Trung Quốc cần nhiều biện pháp phát triển cơ sở hạ tầng hơn nữa để hỗ trợ phục hồi kinh tế

Theo đó mặc dù chỉ số phụ về đơn đặt hàng mới tăng 0,7 điểm, chỉ số phụ về việc làm cũng tăng 0,3 điểm; nhưng chỉ số phụ về thời gian giao hàng của nhà cung cấp đã giảm 0,6 điểm do các ca lây nhiễm Covid-19 mới.

Cuộc khảo sát cũng cho thấy có chút cải thiện trong hoạt động của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong tháng 8, sau khi phục hồi vào tháng 6 khi các biện pháp kiểm soát dịch Covid-19 được nới lỏng hơn. Tuy nhiên các biện pháp kiểm soát Covid-19 lại được thắt chặt hơn vào tháng 8 và các nhà phân tích cho rằng có ít dấu hiệu cho thấy nước này có kế hoạch nới lỏng chính sách Zero-Covid của mình.

Theo Nomura, tính đến ngày 29/8 có 28 thành phố - chiếm 15,7% GDP của Trung Quốc - đã bị đóng cửa toàn bộ hoặc một phần hoặc hạn chế để ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh.

Bên cạnh đó, nắng nóng gay gắt và hạn hán cũng khiến một số khu vực như tỉnh Tây Nam Tứ Xuyên và vùng lân cận Trùng Khánh phải tạm dừng hoạt động sản xuất công nghiệp để đảm bảo cung cấp điện cho khu dân cư, làm gián đoạn hoạt động của các nhà sản xuất nổi tiếng như Foxconn của Đài Loan và hãng pin CATL khổng lồ.

Một số công việc xây dựng cũng bị đình chỉ do nắng nóng, kéo chỉ số PMI phi sản xuất giảm xuống 52,6 điểm trong tháng 8 từ mức 53,8 điểm của tháng 7. Chỉ số PMI tổng hợp, kết hợp sản xuất và dịch vụ, cũng giảm tương tự xuống còn 51,7 điểm từ mức 52,5 điểm của tháng 7.

Nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại trong quý II do các biện pháp đóng cửa hoặc hạn chế để kiểm soát dịch Covid-19 lan rộng đã ảnh hưởng đến nhu cầu và hoạt động kinh doanh, trong khi thị trường bất động sản bị trì trệ từ khủng hoảng này sang khủng hoảng khác.

Các nhà kinh tế cũng cảnh báo nhu cầu bên ngoài suy yếu có thể cản trở xuất khẩu của Trung Quốc, vốn đã thúc đẩy tăng trưởng trong nửa đầu năm, bù đắp cho tiêu thụ chậm chạp.

Để vực dậy nền kinh tế, Trung Quốc đã đưa ra một gói kích thích khác vào tuần trước đó, nâng hạn ngạch đối với các công cụ tài trợ chính sách lên 300 tỷ nhân dân tệ (43,37 tỷ USD). Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cũng vừa cắt giảm lãi suất cho vay chuẩn và hạ mức lãi suất tham chiếu thế chấp với biên độ lớn hơn.

Tuy nhiên, những khó khăn vẫn tiếp diễn khi tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên tăng lên mức cao kỷ lục trong khi lạm phát tiêu dùng trong nước gia tăng khiến dư địa của các chính sách kích thích, đặc biệt là việc nới lỏng tiền tệ bị thu hẹp. Chính sách tiền tệ càng rơi vào tình thế “lưỡng nan” hơn khi mà đồng nhân dân tệ đang rớt giá mạnh xuống sát ngưỡng tâm lý 7 CNY/USD.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900