Kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu đình lạm

07:47 | 03/11/2021

Các nhà kinh tế cho biết nguy cơ đình đốn lạm phát đình lạm là “rất thực tế” ở Trung Quốc trong vài quý tới khi giá cả tiếp tục tăng, còn sản xuất đang chậm lại đang làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

Theo báo cáo khảo sát chính thức được công bố vừa qua cho thấy, hoạt động của các nhà máy ở Trung Quốc đã giảm nhiều hơn dự kiến trong tháng 10, chỉ số nhà quản trị mua hàng sản xuất hiện đang ở mức thấp.

Ông Zhang Zhiwei, Kinh tế trưởng tại Pinpoint Asset Management cho biết, chỉ số sản xuất hiện đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ khi được công bố vào năm 2005, ngoại trừ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và sự bùng phát của Covid-19 vào tháng 2/2020. Trong khi ở chiều ngược lại, chỉ số giá đầu ra đã tăng lên mức cao nhất kể từ khi được công bố vào năm 2016. Những tín hiệu này xác nhận rằng nền kinh tế Trung Quốc có khả năng đã và đang trải qua tình trạng lạm phát đình đốn.

kinh te trung quoc dang co dau hieu dinh lam
Ảnh minh họa

Lạm phát đình đốn hay đình phát là khi nền kinh tế đồng thời trải qua hoạt động đình trệ và tăng tốc lạm phát. Hiện tượng này lần đầu tiên được ghi nhận vào những năm 1970 khi một cú sốc dầu mỏ khiến giá cả leo thang kéo dài nhưng tăng trưởng GDP lại giảm mạnh. Một dấu hiệu đáng lo ngại là lạm phát chuyển từ giá đầu vào sang giá đầu ra. Lạm phát giá đầu vào đã ở mức cao trong nhiều tháng do giá nguyên nhiên vật liệu tăng cao và bắt đầu phản ánh ở giá đầu ra, đặc biệt sự tăng vọt của chỉ số giá đầu ra trong tháng 10 là đáng báo động.

Áp lực lạm phát đang được truyền từ các công ty “thượng nguồn” xuống “hạ nguồn”. “Thượng nguồn” đề cập đến nguyên liệu đầu vào cần thiết để sản xuất hàng hóa, trong khi hoạt động “hạ nguồn” là những hoạt động gần gũi hơn với khách hàng là nơi sản phẩm được tạo ra và phân phối.

Ông Raymond Yeung, Kinh tế trưởng chuyên nghiên cứu về Trung Quốc của ANZ chỉ ra rằng ngành công nghiệp Trung Quốc đang ở trong một tình huống rất khó khăn.

Theo kết quả khảo sát của Capital Economics, sản lượng của nhà máy bị kìm hãm do nguồn cung điện giảm, thiếu nguyên liệu và chi phí đầu vào cao. Trung Quốc hiện đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng điện năng nghiêm trọng, vì nước này phải vật lộn với tình trạng thiếu than. Nền kinh tế Trung Quốc đang đối mặt với nhiều thách thức. Mức tăng trưởng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái được ghi nhận trong quý III là mức chậm nhất trong năm và đáng thất vọng do hoạt động công nghiệp tăng ít hơn dự kiến. Theo các nhà phân tích tham gia cuộc thăm dò ý kiến của Reuters, điều đó đã bỏ lỡ kỳ vọng tăng 5,2%. Sản xuất công nghiệp tăng 3,1% trong tháng 9, thấp hơn mức 4,5% mà Reuters dự đoán.

Bên cạnh tình trạng suy thoái nguồn điện đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các nhà máy, sự suy thoái trong lĩnh vực bất động sản cũng làm giảm tốc độ tăng trưởng. Dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia cho thấy, đầu tư vào tài sản cố định trong ba quý đầu năm yếu hơn dự kiến. Nó chỉ tăng 7,3% so với một năm trước và thấp hơn so với dự kiến là 7,9%.

Ông Chaoping Zhu, Chiến lược gia thị trường toàn cầu tại JP Morgan Asset Management cho biết, các hoạt động đầu tư đã bị giảm bớt do các điều kiện tín dụng thắt chặt. Ước tính đầu tư tài sản cố định đã giảm 2,5% trong tháng 9 so với cùng kỳ, chủ yếu kéo theo sự sụt giảm 3,5% vào đầu tư bất động sản.

Hải Thanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.540 22.850 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.570 22.850 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.562 22.862 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.610 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.610 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.565 22.857 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.585 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.600 22.800 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.620 22.800 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.050
61.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.050
61.650
Vàng SJC 5c
61.050
61.670
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900