Lãi suất trái phiếu tăng ở Đông Á mới nổi trong bối cảnh thắt chặt tiền tệ

09:59 | 25/11/2022

Việc thắt chặt tiền tệ quyết liệt ở các nền kinh tế phát triển đã đẩy lãi suất trái phiếu tăng và làm trầm trọng thêm tình trạng suy thoái tài chính ở Đông Á mới nổi, theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).

lai suat trai phieu tang o dong a moi noi trong boi canh that chat tien te

Các đồng tiền trong khu vực giảm giá so với đồng đô-la Mỹ, chứng khoán sụt giảm và phí bảo hiểm rủi ro tăng trong giai đoạn từ ngày 31 tháng 8 tới ngày 4 tháng 11, theo ấn bản mới nhất của báo cáo Giám sát Trái phiếu Châu Á được công bố hôm nay. Hầu hết các thị trường trái phiếu khu vực đều chứng kiến tình trạng rút vốn đầu tư gián tiếp. Lạm phát toàn cầu, tăng trưởng chậm hơn ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và suy thoái kinh tế từ việc Nga đưa quân vào Ukraine tiếp tục đe dọa những triển vọng ngắn hạn của khu vực.

Chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB, ông Albert Park, nhận định: “Các điều kiện tài chính ở Đông Á mới nổi đã suy yếu với tốc độ nhanh hơn trong tháng 9 và tháng 10 so với tám tháng đầu năm 2022, do việc thắt chặt tiền tệ quyết liệt của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Tuy nhiên, cho tới nay, khu vực này về cơ bản vẫn có khả năng chống chịu, bất chấp nhiều yếu tố bất lợi.”

Việc phát hành trái phiếu bằng đồng nội tệ ở Đông Á mới nổi giảm 1,1% so với quý trước, xuống còn 2,2 nghìn tỉ USD trong Quý 3 trong bối cảnh tâm lý đầu tư ảm đạm. Tổng lượng trái phiếu bằng đồng nội tệ đang lưu hành tăng 2,3% lên 22 nghìn tỉ USD. Khu vực Đông Á mới nổi bao gồm các nền kinh tế thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); Trung Quốc; Hồng Kông, Trung Quốc; và Hàn Quốc.

Tổng lượng phát hành trái phiếu chính phủ giảm 4,5% so với quý trước, trong khi lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp tăng 5,7%, chủ yếu là nhờ việc các công ty Trung Quốc tận dụng những biện pháp nới lỏng tiền tệ trong nước. Lãi suất tăng đã dẫn tới mức sụt giảm 2% trong lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp ở các thị trường ASEAN.

Thị trường trái phiếu bền vững ở khu vực ASEAN cùng với Trung Quốc; Hồng Kông, Trung Quốc; và Hàn Quốc đã tăng 1,7% lên 521,6 tỉ USD vào cuối tháng 9. Mặc dù tăng trưởng chậm hơn so với quý trước, phân khúc này đã chứng kiến sự cải thiện trong việc đa dạng hóa danh mục thị trường và loại hình trái phiếu.

Sau khi tăng trưởng mạnh trong quý trước, thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ của Việt Nam đã giảm 0,2% do thị trường trái phiếu sụt giảm và trái phiếu doanh nghiệp tăng chậm hơn. So với cùng kỳ năm trước, thị trường tăng 21,1% lên 97,4 tỷ USD.

Trái phiếu chính phủ giảm 2% do lượng tín phiếu ngân hàng trung ương đang lưu hành giảm 70,3% so với quý trước. Dư nợ trái phiếu chính phủ đạt 67,3 tỷ USD. Tăng trưởng trái phiếu doanh nghiệp giảm 4,1% so với quý trước, đưa phân khúc này lên 30,1 tỷ USD.

Ấn bản mới nhất của báo cáo Giám sát Trái phiếu Châu Á nhấn mạnh những lưu ý về hai chủ đề đặc biệt: mối quan hệ giữa hội nhập thương mại khu vực và hội nhập tài chính khu vực, và việc thúc đẩy sự ổn định tài chính và khả năng chống chịu trước các cú sốc thông qua phát triển các thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ.

PL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000