Lạm phát tăng cao, phủ rộng và kéo dài ở nhiều nơi trên thế giới

09:27 | 30/08/2022

Lạm phát ở nhiều nền kinh tế lớn nhất trên thế giới đang ở mức gần hai con số, mức chưa từng thấy trong gần nửa thế kỷ qua, trong khi khả năng kiểm soát của hầu hết ngân hàng trung ương rất hạn chế.

lam phat tang cao phu rong va keo dai o nhieu noi tren the gioi

Thông điệp từ hội nghị các ngân hàng trung ương hàng đầu thế giới ở Jackson Hole cuối tuần qua phát đi rất rõ ràng rằng lạm phát tăng cao đang diễn ra trên diện rộng, kéo dài và cần có động thái quyết liệt để ngăn cản lạm phát.

Tuy nhiên, các thị trường mới nổi rất có thể sẽ phải chứng kiến việc làm “bốc hơi” và các hiệu ứng lan truyền.

Các ngân hàng trung ương lớn đã dành nhiều thập niên để xây dựng uy tín trong việc chống lạm phát và nếu cuộc chiến chống lạm phát lần này thất bại có thể sẽ làm lung lay nền tảng của chính sách tiền tệ hiện đại.

Isabel Schnabel, thành viên của ủy ban điều hành Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB), cho biết: “Việc lấy lại và duy trì niềm tin đòi hỏi chúng tôi phải đưa lạm phát trở lại mức mục tiêu một cách nhanh chóng. Lạm phát càng ở mức cao càng lâu, thì nguy cơ công chúng mất niềm tin vào quyết tâm và khả năng duy trì sức mua càng lớn".

Bà Schnabel nói rằng ngay cả khi thế giới bước vào thời kỳ suy thoái, thì cũng không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục con đường chính sách của mình.

Lạm phát ở nhiều nền kinh tế lớn nhất trên thế giới đang ở mức gần hai con số, mức chưa từng thấy trong gần nửa thế kỷ qua. Ngoại trừ Mỹ, lạm phát vẫn sẽ “neo” ở mức “đỉnh” trong vài tháng nữa.

Thế nhưng điều khó khăn hiện nay là hầu hết các ngân hàng trung ương có quyền kiểm soát rất hạn chế, như chính sách tiền tệ có rất ít tác dụng đối với cú sốc về nguồn cung, do căng thẳng Nga-Ukraine gây ra khiến giá năng lượng tăng vọt.

Bên cạnh đó, việc các chính phủ “vung tay” chi tiêu, nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng trung ương, cũng làm trầm trọng thêm vấn đề.

Một nghiên cứu được trình bày tại hội nghị Jackson Hole lập luận rằng một nửa lạm phát của Mỹ là do vấn đề tài chính gây ra và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ không thể kiểm soát giá cả nếu không có sự hợp tác của chính phủ.

"Nỗi đau" từ việc lãi suất Mỹ tăng cao sẽ lan rộng khỏi biên giới nước này và ảnh hưởng nặng nề đến các thị trường mới nổi, đặc biệt là khi Chủ tịch Fed Jerome Powell phát đi tín hiệu sẽ tăng lãi suất trong một thời gian nữa.

Peter Blair Henry, giáo sư kiêm viện trưởng khoa danh dự của trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, cho biết đây là thời điểm khó khăn đối với Fed khi mức độ tín nhiệm của ngân hàng này luôn ở mức cao trong suốt 40 năm qua, do đó Fed sẽ làm mọi cách để làm giảm lạm phát, kể cả khi điều đó gây thiệt hại cho các thị trường mới nổi.

Nhiều quốc gia mới nổi “ôm” các khoản vay bằng đồng USD và lãi suất của Fed cao hơn đã tác động đến họ trên nhiều phương diện. Vấn đề này làm tăng chi phí đi vay và đặt ra các vấn đề về tính bền vững của các khoản nợ. Vấn đề này cũng chuyển thanh khoản sang thị trường Mỹ, đẩy phí bảo hiểm rủi ro của các thị trường mới nổi lên cao, khiến việc vay vốn trở nên khó khăn hơn.

Ngoài ra, đồng USD tăng giá so với hầu hết các loại tiền tệ khác, đẩy lạm phát nhập khẩu ở các thị trường mới nổi lên.

Các quốc gia lớn hơn như Trung Quốc và Ấn Độ dường như “chống đỡ tốt”, nhưng một loạt quốc gia nhỏ hơn từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Argentina rõ ràng đang bị ảnh hưởng.

Nguồn: TTXVN

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450