Linh hoạt điều hành chính sách tiền tệ

09:07 | 07/04/2021

NHNN sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt giữ ổn định mặt bằng lãi suất. Qua đó kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.

linh hoat dieu hanh chinh sach tien te Ngành Ngân hàng: Tiếp tục chủ động, gắn kết và sẵn sàng ứng phó
linh hoat dieu hanh chinh sach tien te Phải chủ động và linh hoạt
linh hoat dieu hanh chinh sach tien te Một năm thành công trong điều hành chính sách tiền tệ

Sau khi tăng khá mạnh trong tháng 2 là Tết Nguyên đán, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã quay đầu giảm 0,27% trong tháng 3 và chỉ còn tăng 1,31% so với tháng 12/2020. Đáng chú ý so với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 3 chỉ tăng 1,16% - thấp nhất kể từ năm 2016; CPI bình quân quý I/2021 tăng 0,29%, cũng là mức tăng thấp nhất trong 20 năm qua.

Không phủ nhận lạm phát quý I đang ở mức thấp, nhưng TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh đánh giá còn nhiều thách thức đối với kiểm soát lạm phát năm nay. Đầu tiên là chính sách siêu nới lỏng tiền tệ tại nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới. Thứ hai là giá dầu thế giới đang trong xu hướng tăng. Ngoài ra còn những rủi ro khác như các cú sốc ảnh hưởng tới nguồn cung… Trong khi áp lực đến từ thị trường trong nước cũng khá lớn do tổng cầu phục hồi, việc hỗ trợ giá điện đã kết thúc…

linh hoat dieu hanh chinh sach tien te
Mặt bằng lãi suất hiện đang ở mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây

TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cũng nhận định, áp lực lạm phát năm nay khá lớn. Lý do là giá dầu được dự báo sẽ tăng khoảng 30% trong năm nay do nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu của thế giới tăng theo sự phục hồi của nền kinh tế và các quốc gia OPEC đang khai thác dưới nhu cầu. Sự cố vừa qua tại kênh đào Suez cũng đẩy giá dầu tăng thêm. Ngoài giá dầu, giá nhiều loại hàng hóa thiết yếu cũng có xu hướng tăng do cầu tiêu dùng phục hồi…

Theo giới chuyên gia, áp lực lạm phát lớn hơn cũng gây nhiều khó khăn cho công tác điều hành chính sách tiền tệ. Dễ thấy nhất là lãi suất. Do mặt bằng lãi suất hiện đang ở mức rất thấp nên đã xuất hiện hiện tượng dòng tiền dịch chuyển giữa các kênh đầu tư, trong đó có sự dịch chuyển dòng tiền sang kênh bất động sản, chứng khoán... Điều này dễ dẫn đến rủi ro bong bóng tài sản. Do đó, các chuyên gia cho rằng, cần phải điều hành thận trọng lãi suất.

“Nếu tiếp tục giảm thì lãi suất sẽ quá thấp khiến dòng tiền chảy sang các kênh đầu tư khác rủi ro hơn. Điều này một mặt khiến thanh khoản hệ thống ngân hàng khó khăn hơn, một mặt khiến dòng vốn không đi vào sản xuất kinh doanh nên khó kích thích tăng trưởng kinh tế lâu dài”, TS. Cấn Văn Lực cảnh báo.

Cùng quan điểm, TS. Võ Trí Thành nhận thấy, việc giảm thêm lãi suất là rất khó. Bởi kinh tế phục hồi càng mạnh sẽ kéo theo cầu tín dụng tăng, khả năng giảm lãi suất càng khó. Nhìn rộng hơn, theo đánh giá của vị chuyên gia này, năm 2021 sẽ là một năm không dễ đối với điều hành chính sách tiền tệ mà đòi hỏi nhà điều hành phải hết sức khéo léo khi đưa ra các quyết sách vừa phải đáp ứng mục tiêu hỗ trợ nền kinh tế lại vừa đảm bảo không để xảy ra rủi ro và gây hệ lụy nợ xấu cho ngân hàng.

Chẳng hạn, doanh nghiệp đang trong quá trình phục hồi nên ít nhiều cần được hỗ trợ như giảm lãi suất, tăng tín dụng... Tuy nhiên, “nới quá không khéo lại dẫn tới lạm phát, nợ xấu, rủi ro tài chính, bong bóng tài sản. Rủi ro tài chính đó có thể thấy qua việc, lãi suất thấp dòng tiền đã chuyển sang các kênh đầu tư khác là chứng khoán, bất động sản thời gian qua”, TS. Thành cho biết và nhấn thêm: Dù chưa có dấu hiệu bong bóng, nhưng nếu hạ tiếp lãi suất thì rủi ro này là hiện hữu.

Ngược lại nếu lo lắng quá, thắt chặt tiền tệ khi doanh nghiệp chưa kịp phục hồi thì cản trở sự phục hồi của nền kinh tế. Vì vậy TS. Võ Trí Thành khuyến nghị, điều hành chính sách tiền tệ ở thời điểm này cần phải linh hoạt, khéo léo, phù hợp với bối cảnh của nền kinh tế trong nước cũng như thế giới. Trong đó cố gắng giữ ổn định lãi suất không nên giảm thêm, nếu có tăng thì biên độ rất hẹp. 

Cảnh giác với lạm phát không thừa, nhưng một vị chuyên gia làm việc lâu năm trong lĩnh vực ngân hàng trấn an, dự báo tổng cầu thế giới có tăng nhưng chậm do mức độ hồi phục của các nước không đồng đều. Do đó, lạm phát toàn cầu sẽ chỉ nhẹ so với năm 2020. Trên thực tế, mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay là kiểm soát được dịch bệnh và phục hồi kinh tế chứ không phải vấn đề lạm phát. Vì vậy trên thế giới, nhiều NHTW tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ, đưa ra thông điệp sẵn sàng chấp nhận lạm phát có thể tăng.

Thế nhưng cái khó ở Việt Nam, NHNN lại phải thực hiện nhiệm vụ kép, vừa hỗ trợ kinh tế phục hồi, vừa phải kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

“Hai mục tiêu này khiến cho NHNN khó xử. Đó là lý do NHNN đã phải rất đắn đo khi đưa ra mục tăng trưởng tín dụng ở mức nào phù hợp để vừa hỗ trợ nền kinh tế phát triển mạnh hơn, mà vẫn kiểm soát lạm phát. Song, theo tôi, muốn hâm nóng nền kinh tế, có lẽ chúng ta nên chấp nhận mức lạm phát cao hơn một chút so với mục tiêu đặt ra. Nếu đại dịch Covid-19 đã đặt ra tất cả các nước phục hồi và phát triển kinh tế xã hội trong “trạng thái bình thường mới”, thì trong điều hành tiền tệ cũng nên có sự linh hoạt kiểu “bình thường mới”, vị này bày tỏ quan điểm và tin tưởng: NHNN sẽ tiếp tục sử dụng hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng đảm bảo dòng tiền chảy đúng địa chỉ sẽ hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế và không gây áp lực lên lạm phát.

Tại họp báo thường kỳ Chính phủ tháng 3/2021, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cũng khẳng định, NHNN sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt giữ ổn định mặt bằng lãi suất. Qua đó kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.

“NHNN vẫn tiếp tục theo đuổi quan điểm đó là tạo điều kiện đảm bảo sự ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tập trung hỗ trợ cho dòng vốn tín dụng đầu tư vào những lĩnh vực khôi phục nhanh nền kinh tế, hỗ trợ cho những lĩnh vực đang bị ảnh hưởng nhiều của dịch. Ngoài ra, NHNN cũng sẵn sàng đối phó với những tình huống có thể phát sinh trong năm 2021. Chính sách tiền tệ, tín dụng của NHNN cũng sẽ sẵn sàng với quan điểm là khẩn trương kịp thời ứng phó trong mọi lĩnh vực cũng như tăng cường khả năng dự trữ, dự phòng kể cả trong hạn mức tín dụng cũng như dự phòng nguồn lực để can thiệp thị trường khi cần thiết”, Phó Thống đốc Đào Minh Tú nhấn mạnh.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.825 23.045 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.842 23.054 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.827 23.047 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.150
Vàng SJC 5c
56.550
57.170
Vàng nhẫn 9999
52.550
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.150
52.850