Lực mua quay trở lại thị trường hàng hóa

09:18 | 23/11/2022

Theo Sở giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), lực mua đã quay trở lại và chiếm ưu thế trên thị trường hàng hóa trong phiên giao dịch kết thúc ngày 22/11. Điều này đã khiến cho chỉ số MXV-Index đảo chiều tăng 1,19% sau 2 ngày suy yếu liên tiếp, đạt mức 2.479 điểm.

luc mua quay tro lai thi truong hang hoa
 

Trong khi hầu hết các mặt hàng ngũ cốc và hạt lấy dầu trên Sở Chicago ghi nhận đà suy yếu nhẹ, thì cả 3 nhóm nguyên liệu còn lại là năng lượng, kim loại và nguyên liệu công nghiệp đều chứng kiến nhiều mặt hàng tăng giá. Dòng tiền tìm đến thị trường cũng đã phục hồi trở lại, được phân bổ mạnh mẽ cho nhóm kim loại và năng lượng trong ngày hôm qua. Giá trị giao dịch toàn Sở MXV cũng phục hồi với mức tăng gần 1% lên hơn 3.800 tỷ đồng.

Thách thức nguồn cung hỗ trợ giá dầu phục hồi

Giá dầu đã phục hồi trở lại sau bốn phiên giảm, khi Tổ chức các Nước xuất khẩu dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) bác bỏ tin tức tăng sản lượng và tuyên bố sẽ tiếp tục kiên trì với các chính sách cắt giảm sản lượng sang năm 2023. Kết thúc phiên giao dịch ngày 22/11, hợp đồng dầu thô WTI tháng 1 tăng 1,14% lên 80,95 USD/thùng trong khi hợp đồng dầu thô Brent kỳ hạn tháng 2 tăng 0,70% lên 87,70 USD/thùng.

luc mua quay tro lai thi truong hang hoa
 

Bên cạnh thông tin xoay quanh OPEC+, thị trường cũng quan tâm nhiều tới gói lệnh trừng phạt mới nhất của Liên minh châu Âu (EU) đối với Nga. Mới đây, EU đã đề xuất giảm nhẹ các giới hạn với các hoạt động xuất khẩu dầu của Nga, bằng cách gia hạn thêm thời gian thực hiện đầy đủ các lệnh trừng phạt và nới lỏng các điều khoản vận chuyển chính.

Mặc dù khối lượng nhiên liệu xuất khẩu từ Nga sang các nước châu Âu đã giảm đáng kể từ sau cuộc xung đột ở Biển Đen nổ ra, việc tìm kiếm một nguồn cung mới thay thế Nga là không dễ dàng với các nhà chức trách, nhất là trong bối cảnh các nhà sản xuất lớn như OPEC+ và Mỹ đều gặp khó trong vấn đề gia tăng sản lượng.

Theo Bloomberg, EU đã đề xuất bổ sung thêm một quá trình chuyển đổi kéo dài 45 ngày để giới thiệu mức trần với giá dầu của Nga. Các nhà lãnh đạo dự kiến sẽ họp vào ngày mai để phê duyệt mức giới hạn này. Tuy nhiên, Mỹ đã lên tiếng kêu gọi các thành viên G7 sớm công bố mức giá trần và ủng hộ việc điều chỉnh giá này nhiều lần trong một năm thay vì hàng tháng.

Tin tức này đã phần nào làm dịu đi nỗi lo về nguồn cung trong ngắn hạn và hạn chế đà tăng của giá dầu trong cuối phiên. Một yếu tố khác hỗ trợ cho giá dầu trong phiên hôm qua đến từ sự suy yếu của đồng USD, phản ánh qua việc chỉ số đô la Mỹ giảm về 107,22 điểm.

Sáng nay, báo cáo của Viện Dầu khí Mỹ (API) cho biết tồn kho dầu thô tại Mỹ tiếp tục giảm 4,8 triệu thùng/ngày trong tuần kết thúc ngày 18/11, tiêu cực hơn với mức dự đoán của thị trường tuần thứ hai liên tiếp. Đây sẽ là một yếu tố giúp cho giá dầu duy trì được đà phục hồi trong phiên sáng nay.

Đô la Mỹ suy yếu thúc đẩy lực mua trên thị trường kim loại

Kết thúc phiên giao dịch ngày 22/11, lực mua quay trở lại và chiếm ưu thế trên thị trường kim loại khi đồng đô la Mỹ suy yếu sau 3 phiên tăng liên tiếp, qua đó hỗ trợ cho giá. Đối với nhóm kim loại quý, giá bạc phục hồi với mức tăng 0,85% lên mức 21,5 USD/oz. Bạch kim nối dài đà tăng sang phiên thứ 2 liên tiếp, chốt tại mức giá 995,7 USD/oz sau khi tăng 0,79%.

luc mua quay tro lai thi truong hang hoa
 

Nhiều nhà đầu tư vẫn đang kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ giảm tốc tiến trình tăng lãi suất trong bối cảnh bức tranh về lạm phát đang dần có kết quả khả quan hơn. Chủ tịch Fed Cleveland, Loretta Mester cho rằng Fed có thể chuyển sang các mức tăng lãi suất nhỏ hơn từ tháng tới khi điều chỉnh các hành động chính sách, vừa giúp giảm lạm phát cao trong khi vẫn giữ cho nền kinh tế hoạt động tốt.

Những phát biểu “ôn hoà” hơn đã kéo đồng đô la Mỹ suy yếu từ mức cao trong gần 2 tuần trở lại đây, hỗ trợ cho phần lớn giá kim loại, đặc biệt là kim loại quý như bạc và bạch kim vốn nhạy cảm với thị trường tiền tệ.

Đối với nhóm kim loại cơ bản, đồng COMEX kết thúc chuỗi giảm 6 phiên liên tiếp, tăng 1,2% lên 3,61 USD/pound.

Tình hình dịch bệnh tại Trung Quốc vẫn đang diễn biến phức tạp nhưng giá đồng không còn nhiều phản ứng với bối cảnh nêu trên. Thay vào đó, đà tăng giá từ vùng hỗ trợ 3,55 USD/pound là do sự suy yếu của bạc xanh, nhất là khi Biên bản cuộc họp tháng 11 của Fed sẽ được công bố vào đêm nay theo giờ Việt Nam.

Trái lại, quặng sắt có phiên suy yếu với mức giảm 1,96% xuống còn 93,44 USD/tấn.

Kỳ vọng trước đó về sự nới lỏng trong chính sách Zero Covid và chủ trương hỗ trợ ngành bất động sản tại Trung Quốc đã thúc đẩy sản xuất thép. Tuy nhiên, niềm tin này đang dần lung lay khi dịch bệnh tiếp tục là trở ngại lớn cho bức tranh tiêu thụ.

Trong khi đó, kỳ vọng về nguồn cung gia tăng sau khi chính phủ Ấn Độ tuyên bố bãi bỏ thuế xuất khẩu quặng sắt cấp thấp cũng đã làm gia tăng áp lực lên giá quặng sắt trong phiên.

Hoạt động xuất khẩu sắt thép của Việt Nam tiếp tục gặp khó

Theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan, Việt Nam tiếp tục nhập siêu 364.000 tấn sắt thép các loại kể từ đầu tháng 11 đến hết ngày 15/11. Trong đó, xuất khẩu giảm nhẹ 7,8% so với nửa đầu tháng 10 xuống mức 208.000 tấn, trong khi nhập khẩu tăng khá mạnh gần 29% lên mức hơn 572.000 tấn. Như vậy, luỹ kế từ đầu năm cho tới hết ngày 15/11, Việt Nam đã nhập siêu hơn 3,1 triệu tấn sắt thép các loại, trái ngược với cùng kỳ năm ngoái khi nước ta xuất siêu hơn 700.000 tấn.

“Tình hình tiêu thụ sắt thép trên thế giới tại nhiều nền kinh tế hàng đầu như Mỹ hay khu vực châu Âu đều vẫn còn khá yếu do lãi suất cao hạn chế hoạt động xây dựng. Đây đều là các thị trường nhập khẩu thép hàng đầu của nước ta, chỉ sau khu vực ASEAN. Điều này khiến cho hoạt động xuất khẩu sắt thép của Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn so với năm ngoái. Sản lượng xuất khẩu suy giảm dẫn đến tăng nguồn cung trong nước và tình trạng cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa”, MXV cho biết.

PL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000