Năm thứ hai thương chiến: Mỹ và Trung Quốc nhận lại những gì?

15:08 | 02/01/2020

Năm 2019, cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc bước vào năm thứ hai đã gia tăng áp lực lên nền kinh tế hai nước, trong bối cảnh tình hình kinh doanh toàn cầu ngày càng xấu đi.

nam thu hai thuong chien my va trung quoc nhan lai nhung gi Trung Quốc giảm thuế nhập khẩu cho nhiều sản phẩm từ đầu năm 2020
nam thu hai thuong chien my va trung quoc nhan lai nhung gi Thương chiến Mỹ - Trung tạo cơ hội cho ngành sản xuất Việt Nam
nam thu hai thuong chien my va trung quoc nhan lai nhung gi Trump cho biết Mỹ đã đạt được thỏa thuận quan trọng giai đoạn một đàm phán với Trung Quốc
nam thu hai thuong chien my va trung quoc nhan lai nhung gi

Tác động tiêu cực của thương chiến Mỹ - Trung phủ rộng ảnh hưởng lên nhiều lĩnh vực, không chỉ tác động đến sản xuất, thu hẹp xuất khẩu, mà còn sụt giảm tăng trưởng, dẫn tới những điều chỉnh trong chiến lược đầu tư và thay đổi quan điểm đối với chính sách tiền tệ…

Tăng trưởng kinh tế chậm lại

Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội - thước đo quan trọng nhất của một nền kinh tế - đã chậm lại ở cả Mỹ và Trung Quốc trong năm 2019.

nam thu hai thuong chien my va trung quoc nhan lai nhung gi

Một số nhà kinh tế dự đoán rằng tốc độ tăng trưởng ở cả hai quốc gia thậm chí có thể còn khiêm tốn hơn nữa trong năm 2020 này, do các tranh chấp thương mại và những thách thức trong nước vẫn tiếp diễn. Tình trạng này sẽ gia tăng áp lực đối với nền kinh tế toàn cầu vốn đã mong manh.

Ngoại thương sụt giảm

So với năm 2018, cả xuất khẩu và nhập khẩu năm 2019 đã giảm ở cả hai nước. Điều này xảy ra trong bối cảnh giao dịch thương mại quốc tế thu hẹp trên phạm vi toàn cầu - một xu hướng mà một số chuyên gia cho biết đã bắt đầu ngay cả trước cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

nam thu hai thuong chien my va trung quoc nhan lai nhung gi

Tổng thâm hụt thương mại tổng thể của Mỹ, chủ yếu là do mất cân bằng song phương với Trung Quốc, đã không thay đổi nhiều trong năm 2019. Đáng ngạc nhiên là điều này diễn ra khi thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc giảm mạnh, trong 10 tháng năm 2019 là 294,5 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2018 là 344,5 tỷ USD, theo dữ liệu của Cục điều tra dân số Mỹ.

Sản xuất suy thoái

Các lĩnh vực sản xuất của Mỹ và Trung Quốc đều phải chịu sức ép từ việc nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, trong đó thương chiến giữa hai nước cũng góp phần làm cho viễn cảnh mở mịt hơn.

nam thu hai thuong chien my va trung quoc nhan lai nhung gi

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc - một thước đo quan trọng đối với ngành sản xuất - duy trì trong vùng điểm phản ánh tình trạng co hẹp trong hầu hết năm, ở dưới 50 điểm. Trong khi tại Mỹ, PMI lĩnh vực sản xuất cũng cho thấy hoạt động ngành công nghiệp suy giảm kể từ tháng 8.

Doanh số bán lẻ vẫn ổn định

Tuy nhiên, tiêu dùng ở Mỹ và Trung Quốc lại là một trong những điểm sáng của hai nền kinh tế trong năm 2019, do được hỗ trợ bởi một thị trường lao động ổn định.

nam thu hai thuong chien my va trung quoc nhan lai nhung gi

Nhưng, có những rủi ro khiến sự lạc quan khó có thể được duy trì.

Một số nhà phân tích cảnh báo rằng thuế quan bổ sung của Mỹ đối với hàng hóa Trung Quốc có thể làm giảm chi tiêu của người tiêu dùng Mỹ. Còn tại Trung Quốc, giá thịt lợn tăng bào mòn sức mua và có thể khiến người tiêu dùng giảm chi tiêu cho các hàng hóa dịch vụ khác, ông Francis Tan, chiến lược gia đầu tư tại Ngân hàng UOB Private Bank của Singapore, cho biết.

Biến động giá tiền tệ

Với một nền kinh tế mạnh của Mỹ và nhà đầu tư có xu hướng ưu tiên tìm nơi trú ẩn an toàn cho tài sản của mình, nhu cầu đối với đồng bạc xanh đã gia tăng làm tăng giá trị của đồng tiền này trong năm 2019.

nam thu hai thuong chien my va trung quoc nhan lai nhung gi

Ngược lại, chính quyền Trung Quốc cho phép đồng nhân dân tệ mất giá trong phần lớn thời gian trong năm. Động thái đó đã dẫn tới cáo buộc thao túng tiền tệ từ Tổng thống Mỹ Donald Trump, nhưng Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho biết giá trị của đồng nhân dân tệ phù hợp với các nguyên tắc kinh tế cơ bản của Trung Quốc.

Thị trường chứng khoán tăng tốc

Trên thị trường tài chính, việc cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và giảm căng thẳng chiến tranh thương mại trong những giai đoạn nhất định của năm 2019 đã hỗ trợ tâm lý nhà đầu tư và đẩy giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ lên nhiều mức cao mới trong năm nay, bất chấp lợi nhuận của các công ty thấp hơn.

Ở Trung Quốc, Chỉ số chứng khoán Thượng Hải cũng ghi nhận mức tăng hai con số trong năm 2019.

nam thu hai thuong chien my va trung quoc nhan lai nhung gi

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000