Ngân hàng kiên cường trước đại dịch COVID-19

11:25 | 21/08/2021

Dù phải đối đầu với dịch COVID-19 kéo dài nhưng ngân hàng vẫn là một trong những ngành được các chuyên gia dự báo tăng trưởng khả quan. Trong gian khó, các ngân hàng vẫn duy trì hoạt động, tăng cường hiện đại hóa, tạo ra được nguồn thu ổn định để ưu tiên hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.

ngan hang kien cuong truoc dai dich covid 19
Ngành Ngân hàng vẫn được dự báo tăng trưởng khả quan trong đại dịch

Vượt qua nhiều lo ngại

Theo khảo sát của Vietnam Report, lo ngại nợ xấu thuộc top 5 thách thức đối với ngành Ngân hàng trong năm 2021. Tuy nhiên, sau kỳ công bố báo cáo tài chính quý II/2021 cho thấy, nợ xấu vẫn đang được kiểm soát khá tốt ở phần lớn các ngân hàng, cá biệt một số còn đang sở hữu tỷ lệ nợ xấu thấp kỷ lục.

Đơn cử, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) có nợ xấu giảm 13,6% so với đầu năm. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng này tăng nhanh, đạt tới 13%, khiến tỷ lệ nợ xấu/dư nợ chỉ còn ở mức 0,36%. Đây cũng là ngân hàng đang có tỷ lệ nợ xấu thuộc nhóm thấp nhất hệ thống.

Đáng chú ý, Ngân hàng TMCP Kiên Long (Kienlongbank) đã ngoạn mục đạt mức giảm 73% số dư nợ xấu so với cuối năm 2020. Đại diện ngân hàng này cho biết, ngay trong quý đầu năm 2021, ngân hàng đã xử lý xong toàn bộ tài sản bảo đảm, hoàn thành việc thu hồi nợ gốc và lãi phải thu của các khoản vay có tài sản bảo đảm là cổ phiếu của một doanh nghiệp. Điều này khiến số nợ xấu giảm mạnh, nhất là nợ có khả năng mất vốn giảm 4 lần so với trước.

Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng đã đưa tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên trên 100%, thậm chí 200 - 300%. Hiện Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) đang là quán quân về tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 352%, tức là cứ 100 đồng nợ xấu thì nhà băng này dự phòng 352 đồng. Tương tự, Techcombank cũng gia tăng tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên mức 259%, tăng 88% so với đầu năm nay.

Theo các chuyên gia, tỷ lệ nợ xấu thấp, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng cao là những chỉ số tích cực cho thấy sự chủ động trong quản trị rủi ro của các ngân hàng, và phần nào phản ánh tương ứng năng lực thực sự của những nhà băng đã đi đầu để tiến tới chuẩn Basel III. Điều này cũng được xem là yếu tố thuận lợi đối với các ngân hàng để giữ được đà tăng trưởng trong thời gian tới.

Đặc biệt, một trong số các hành động "biến nguy thành cơ" của các ngân hàng thời gian qua là đẩy mạnh chuyển đổi số để phục vụ khách hàng, qua đó tăng nguồn thu từ dịch vụ, bù lại những tổn thất từ mảng tín dụng do phải cắt giảm lãi suất để chia sẻ khó khăn với khách hàng.

Nhờ chuyển đổi số nhanh mà các ngân hàng cũng hái được nhiều “trái ngọt”. Như tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), trong 6 tháng đầu năm nay MB đã có khoảng 2,5 triệu tài khoản mới mở qua eKYC, chiếm trên 70% số lượng khách hàng mới kể từ khi nhà băng này chính thức áp dụng eKYC vào mở tài khoản. Hay tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB), nhờ dành nhiều nguồn lực vào ngân hàng số, các sản phẩm mang hàm lượng công nghệ và tính tự động nên lượng khách hàng đăng ký ngân hàng số của nhà băng này tăng trưởng trên 130% trong năm qua.

Ngoài ra, quá trình chuyển đổi số của các ngân hàng trong giai đoạn dịch bệnh cũng giúp ngân hàng tối ưu hóa hoạt động, kiểm soát tốt chi phí, kiểm soát chi phí trên thu nhập (CIR) tốt - một chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Số lượng các ngân hàng sở hữu CIR ở mức dưới 30% khá nhiều, gồm: VPBank (23,4%), BIDV (25,63%), Techcombank (28,41%), VietinBank (28,51%), SHB (28,57%), ACB (29,89%)... Riêng KienLongBank có sự cải thiện CIR ấn tượng khi ngân hàng này đã đưa tỷ lệ chi phí trên thu nhập từ mức cao 74,26% trong 6 tháng đầu năm 2020 xuống còn 40,14% trong 6 tháng đầu năm nay.

Duy trì triển vọng tích cực

Nhờ vào những giải pháp nêu trên, dù cả nền kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng vẫn đang trải qua rất nhiều khó khăn từ dịch COVID-19 nhưng hiệu quả hoạt động của phần lớn của các ngân hàng vẫn được duy trì so với năm trước. Vì vậy, các chuyên gia đã không ngần ngại đưa ra những dự báo tích cực về triển vọng của ngành Ngân hàng trong tương lai.

Theo khảo sát của Vietnam Report, với những yếu tố thuận lợi do sự phục hồi kinh tế toàn cầu, lãi suất thấp,... có 52,94% chuyên gia và ngân hàng nhận định ngành ngân hàng trong năm 2021 sẽ tăng trưởng khả quan. Tăng trưởng tín dụng cả năm được dự báo có thể tương đương hoặc cao hơn mức tăng trưởng 12,13% của năm ngoái. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng của nhóm ngân hàng vẫn còn nhiều thách thức, nhất là khi dịch bệnh đang diễn biến khó lường, chưa được kiểm soát.

Đặc biệt, lợi nhuận ngân hàng năm 2021 trong 3 kịch bản được Công ty Chứng khoán Maybank Kim Eng (MBKE) công bố vẫn duy trì đà tăng. Cụ thể, trong kịch bản lạc quan, MBKE ước tính tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng có thể đạt 37% so với cùng kỳ năm trước; trong kịch bản cơ sở, lợi nhuận có thể tăng 33% (đã điều chỉnh); trong kịch bản bi quan, lợi nhuận có thể tăng 25%.

Cùng chung nhận định về triển vọng của Ngành, ông Harmander Mahal từ Ngân hàng Standard Chartered phân tích, triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là rất mạnh mẽ. Thu nhập bình quân đầu người gia tăng sẽ giúp thúc đẩy nhu cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Tỷ lệ sử dụng công nghệ, điện thoại thông minh và Internet tại Việt Nam rất cao. Đây là lợi thế để đẩy mạnh sự sáng tạo trong lĩnh vực ngân hàng, qua đó ngành Ngân hàng có thể tận dụng hiệu quả các cơ hội trong thời gian tới.

Ái Nhiên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.657 22.869 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.645 22.855 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.850
58.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.850
58.550
Vàng SJC 5c
57.850
58.570
Vàng nhẫn 9999
51.400
52.100
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.800