Ngân hàng trung ương New Zealand giữ nguyên lãi suất

13:13 | 12/02/2020

Ngân hàng trung ương New Zealand đã giữ nguyên lãi suất ở mức thấp kỷ lục vào thứ Tư, đúng như dự kiến, tuy nhiên tỏ ra tự tin hơn về triển vọng kinh tế và điều này làm giảm khả năng cắt giảm lãi suất trong tương lai, khiến giá đồng nội tệ tăng vọt.

Tại cuộc họp đầu tiên của năm, ngân hàng trung ương New Zealand (RBNZ) lưu ý những rủi ro mới cho nền kinh tế đến từ dịch coronavirus ở Trung Quốc nhưng dự kiến các tác động sẽ được hạn chế.

Trong khi RBNZ giữ lãi suất ở mức 1% đúng như dự đoán của các nhà kinh tế được Reuter thăm dò ý kiến, bản tuyên bố sau cuộc họp đã bỏ đi một dòng được sử dụng trong các tuyên bố trước đây rằng cơ quan này sẽ tiếp tục các chính sách kích thích tiền tệ nếu cần. Tuyên bố cũng đề cập góc nhìn lạc quan hơn về việc làm và giá cả tiêu dùng.

ngan hang trung uong new zealand giu nguyen lai suat

Adrian Orr, Thống đốc ngân hàng trung ương New Zealand, cho biết ông dự đoán tác động của dịch bệnh do virus corona gây ra có thể chỉ kéo dài khoảng sáu tuần, dựa trên hướng dẫn từ các cơ quan chính phủ khác, nhưng RBNZ vẫn còn room để điều chỉnh chính sách nếu tác động vượt quá mức dự kiến.

"Với việc làm, kịch bản giả định là các lệnh cấm du lịch được dỡ bỏ và bình thường hóa trong tháng ba, với một số hiệu ứng tác động còn kéo dài", Orr nói tại cuộc họp báo sau khi RBNZ công bố quyết định chính sách.

Ngân hàng trung ương cũng đã nâng đường dự báo lãi suất trong năm nay lên 1%, từ mức 0,9% trước đó, loại bỏ cơ hội cắt giảm lãi suất và đẩy đồng đô la New Zealand tăng 0,9% lên 0,6460 USD/NZD.

Đi du lịch và di chuyển lao động bị hạn chế trên toàn cầu do virus, dịch bệnh này đã làm chế hơn một ngàn người và đẩy y tế tới tình trạng khẩn cấp, đang gây áp lực lên các công ty New Zealand kinh doanh với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern hôm thứ Hai nói rằng dịch coronavirus sẽ có tác động không thể tránh khỏi đối với tăng trưởng kinh tế.

"Nói chung, có vẻ như RBNZ dự kiến sẽ giữ lãi suất cơ bản (OCR) trong năm nay, trừ khi coronavirus gây ra hệ lụy gì đó nghiêm trọng cho New Zealand", Dominick Stephens, Chuyên gia kinh tế trưởng của Westpac New Zealand, nói.

RBNZ cho biết trong tuyên bố rằng tăng trưởng kinh tế dự kiến sẽ tăng tốc trong nửa cuối năm 2020, được thúc đẩy bởi các kích thích tài chính và tiền tệ, và hoạt động thương mại tăng cao.

Tuyên bố chính sách tiền tệ đưa ra hôm thứ Tư cũng cho thấy một sự kỳ vọng về việc làm và giá tiêu dùng lạc quan hơn. Tuy nhiên, động lực tăng trưởng kinh tế yếu tiếp tục thể hiện vào đầu năm 2020.

Vào tuần trước, ngân hàng trung ương Úc đã giữ nguyên lãi suất cơ bản, đồng thời tỏ ra lạc quan ngay cả khi thị trường đặt cược các vụ cháy rừng kinh hoàng tại quốc gia này và dịch bệnh do virus tại Trung Quốc sẽ buộc ngân hàng trung ương phải nới lỏng chính sách.

Việc cắt giảm lãi suất 75 điểm cơ bản của RBNZ vào năm ngoái đã giúp cơ quan này tiến gần hơn đến việc đạt được nhiệm vụ kép của mình: nâng tỷ lệ lạm phát và tăng việc làm. Lạm phát trong quý trước đã tăng gần tới mức 2%, đạt trung bình của mục tiêu mà RBNZ đưa ra là khoảng 1-3%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp giảm.

"Chúng ta đã có lãi suất rất thấp và đủ kích thích nền kinh tế, chúng ta có một vị thế khởi đầu rất tốt với lạm phát ở mức trung bình, việc làm ở mức tối đa nếu không muốn nói là cao hơn mục tiêu một chút, tăng trưởng toàn cầu đã ổn định", Orr nói.

Nền kinh tế New Zealand đã đạt được tăng trưởng với mức lãi suất thị trường 2,9%/năm vào năm ngoái, thấp hơn một chút so với dự kiến, do thương mại bị tổn thương một phần bởi cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.577 25.700 29.749 30.378 204,34 213,67
BIDV 23.165 23.305 24.914 25.673 29.860 30.471 205,33 212,97
VietinBank 23.167 23.317 24.868 25.703 29.822 30.462 208,25 214,25
Agribank 23.185 23.290 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.873 25.239 29.954 30.394 209,62 212,70
ACB 23.170 23.300 24.902 25.255 30.044 30.394 209,53 212,51
Sacombank 23.139 23.301 24.905 25.360 30.004 30.411 209,01 213,57
Techcombank 23.150 23.310 24.642 25.604 29.613 30.562 207,89 214,68
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.290 24.900 25.230 29.950 29.950 206,10 211,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
44.650
45.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.650
45.500
Vàng SJC 5c
44.650
44.520
Vàng nhẫn 9999
44.650
45.150
Vàng nữ trang 9999
44.200
45.000