Ngành Ngân hàng Bà Rịa - Vũng Tàu: Thúc đẩy các động lực tăng trưởng kinh tế của tỉnh

07:00 | 15/07/2019

3.200 tỷ đồng đã được giải ngân cho 45 doanh nghiệp vay vốn theo Chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2019, nâng tổng doanh số cho vay lũy kế từ đầu chương trình đạt 10.400 tỷ đồng. Dư nợ đạt 4.500 tỷ đồng (21 doanh nghiệp còn dư nợ), tăng 68,7% so với đầu năm, với nhiều dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực tiềm năng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và khu vực phía Nam như về điện mặt trời, khu công nghiệp…

Đó chỉ là một trong những nét chấm phá về kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao của hệ thống ngân hàng trên địa bàn, từ việc NHNN chi nhánh triển khai các nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, kết hợp với định hướng chỉ đạo xuyên suốt của Thống đốc NHNN tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN trong năm 2019.

Thông qua các Hội nghị giao ban khối Ngân hàng trên địa bàn, NHNN Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã kịp thời triển khai nhiều giải pháp tiền tệ, tín dụng ngân hàng đạt hiệu quả cao

Từ định hướng xuyên suốt

Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ông Nguyễn Lợi cho biết, ngay từ đầu năm, dựa trên những chỉ đạo của Thống đốc NHNN lồng ghép với các kế hoạch phát triển kinh tế của tỉnh, Chi nhánh NHNN đã xây dựng các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2019, từ đó triển khai đến toàn bộ hệ thống trên địa bàn tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2019. Hội nghị giao ban khối Ngân hàng trên địa bàn tỉnh vào cuối tháng 3, thêm một lần để đánh giá kết quả hoạt động ngân hàng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quý I/2019, từ đó đề ra phương hướng nhiệm vụ quý II và triển khai Kết luận của Thống đốc NHNN tại Hội nghị triển khai các giải pháp mở rộng tín dụng phục vụ sản xuất và tiêu dùng nhằm hạn chế tín dụng đen. Từ đây, NHNN chi nhánh cũng đã tham mưu với Tỉnh ủy ban hành văn bản về việc triển khai các giải pháp mở rộng tín dụng, góp phần hạn chế tín dụng đen trên địa bàn tỉnh.

Đối với khối QTDND, chi nhánh cũng đã tổ chức Hội nghị giao ban khối lần thứ I năm 2019 để đánh giá kết quả hoạt động năm 2018 và phương hướng hoạt động năm 2019 của hệ thống QTDND trên địa bàn tỉnh. Đồng thời thông báo kết quả xếp hạng QTDND do Thanh tra, giám sát NHNN tỉnh chấm điểm; đánh giá kết quả thực hiện Phương án cơ cấu lại QTDND gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020; đánh giá tiến độ thực hiện các phương án chuyển tiếp theo quy định tại Thông tư 04/2015/TT-NHNN ngày 31/3/2015 của NHNN Việt Nam đến thời điểm 31/12/2018; triển khai một số văn bản mới ban hành cũng như chỉ đạo các nội dung liên quan đến hoạt động của QTDND trên địa bàn trong năm 2019, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của QTDND.

Cơ cấu lại hệ thống các TCTD và QTDND gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2019-2020 theo chỉ đạo của NHNN Việt Nam tại công văn số 256/NHNN-TTGSNH ngày 22/4/2019 cũng đã được NHNN chi nhánh triển khai ngay đến các NHTM và QTDND, với mục tiêu áp dụng toàn diện các biện pháp quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14 để đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu, phấn đấu đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống 2%; tập trung rà soát việc phân loại nợ, bảo đảm phản ánh đúng chất lượng khoản vay, trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định... Vì vậy, ước tính đến cuối tháng 6/2019, nợ xấu ở mức 1.100 tỷ đồng, chiếm 1,4% tổng dư nợ toàn địa bàn. Trong đó, nợ xấu khối doanh nghiệp khoảng 580 tỷ đồng, chiếm 1,76% trong tổng dư nợ khối doanh nghiệp.

Theo chỉ đạo của NHNN Việt Nam, chi nhánh cũng đã đồng thời tham gia góp ý vào Kế hoạch hành động của UBND tỉnh triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh trong năm 2019, định hướng đến năm 2021 và Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 9/11/2018 của Chính phủ về cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp; tham gia xây dựng dự thảo Kế hoạch triển khai cổng thanh toán trực tuyến và giải pháp không dùng tiền mặt tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu…

Thúc đẩy các động lực phát triển

Tái cơ cấu hệ thống hiệu quả với việc kiểm soát nợ xấu và có định hướng rõ ràng trong phát triển tín dụng là nền tảng để các TCTD mở rộng hoạt động huy động, cho vay nền kinh tế cũng như cung ứng các dịch vụ gia tăng sự lưu thông của dòng chảy tiền tệ.

Ước đến cuối tháng 6/2019, tổng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đạt 137.000 tỷ đồng, tăng 9,81% so với đầu năm. Trong đó, tiền gửi tiết kiệm có mức tăng trưởng cao, tăng 5,97% so với đầu năm, chiếm 59,8% tổng nguồn vốn huy động.

Trên đà công nghiệp hóa của tỉnh, dòng vốn tín dụng đã tập trung vào nhiều dự án có tính then chốt và thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh, như Dự án Nhà máy điện mặt trời Đá Bạc 4 tại KCN Châu Đức của CTCP Đông Á Châu Đức, Nhà máy Điện mặt trời Đá Bạc 3 tại KCN Châu Đức của Công ty TNHH Green HC, Nhà máy Điện mặt trời Sao Mai Solar PV1 tại tỉnh An Giang của CTCP Tập đoàn Sao Mai, Nhà máy Điện mặt trời EUROPLAST Long An; Dự án KCN Đất Đỏ 1 của CTCP KCN Tín Nghĩa Phương Đông…

Đến cuối tháng 6/2019, doanh số cho vay lũy kế từ đầu năm ước đạt 79.000 tỷ đồng, tổng dư nợ đầu tư tín dụng cho các thành phần kinh tế đạt 78.500 tỷ đồng, tăng 16,89% so với đầu năm. Trong đó, dư nợ cho vay lĩnh vực sản xuất ước đạt 58.900 tỷ đồng, tăng 12,8% so với đầu năm, chiếm 75% so với tổng dư nợ. Doanh số cho vay khách hàng doanh nghiệp lũy kế từ đầu năm ước đạt 22.000 tỷ đồng; dư nợ cho vay ước đạt 33.000 tỷ đồng với 3.300 doanh nghiệp còn dư nợ tại các TCTD, tăng 18,9% so với đầu năm, chiếm 42% tổng dư nợ. Doanh số cho vay lũy kế khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa từ đầu năm ước đạt 17.500 tỷ đồng; dư nợ cho vay ước đạt 17.400 tỷ đồng, chiếm 52,7% dư nợ cho vay doanh nghiệp, tăng 26,8% so với đầu năm. Doanh số cho vay lớn cho thấy sự vận động hiệu quả của dòng vốn tín dụng với nhiều doanh nghiệp được vay mới đầu tư sản xuất.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn doanh số cho vay lũy kế từ đầu năm ước đạt 17.600 tỷ đồng, dư nợ cho vay ước đạt 24.000 tỷ đồng với 5.560 doanh nghiệp còn dư nợ tại các TCTD, tăng 24,7% so với đầu năm, chiếm 30,6% tổng dư nợ toàn địa bàn. Riêng xây dựng nông thôn mới, dư nợ cho vay ước đạt 13.300 tỷ đồng, tăng 19,36% so với đầu năm. Trong đó, dư nợ theo chính sách hỗ trợ lãi suất tín dụng phát triển sản xuất các xã xây dựng nông thôn mới của tỉnh giai đoạn 2018-2020 ước đạt 2.600 tỷ đồng, tăng 35,8% so với đầu năm 2019 (gồm 9.500 cá nhân và 16.050 hộ gia đình còn dư nợ).

Cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đáp ứng nhu cầu vốn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao với lãi suất ưu đãi (thấp nhất 5%/năm). Tính đến cuối tháng 6/2019, doanh số giải ngân 6 tháng đầu năm đạt khoảng 4.260 tỷ đồng, dư nợ ước đạt 4.500 tỷ đồng, chiếm 5,73% tổng dư nợ, tăng 1% so với đầu năm. Trong đó, khách hàng doanh nghiệp là 350 khách hàng, với dư nợ là 1.900 tỷ đồng, chiếm 42,2% dư nợ cho vay chương trình.

Đáng nói là các nhu cầu vay vốn đáp ứng đủ điều kiện được các chi nhánh TCTD trên địa bàn đáp ứng đầy đủ (đã giải quyết cho vay 98,2% số hồ sơ yêu cầu), những trường hợp không giải quyết chủ yếu do khách hàng không đủ điều kiện vay. Những đóng góp của hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh đã góp phần đưa giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 tăng 8,2%; nông nghiệp tăng 3,51%; doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 8,94%; doanh thu dịch vụ lưu trú tăng 16,07%; kim ngạch xuất khẩu trừ dầu tăng 12,14%; kim ngạch nhập khẩu tăng 10,62%; tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 12,72%.

Theo Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội địa phương, thực hiện công tác quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn, trong 6 tháng cuối năm 2019, NHNN Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ tiếp tục chỉ đạo, giám sát các TCTD triển khai thực hiện hiệu quả các kế hoạch, nhiệm vụ đã đề ra. Đồng thời tiếp tục duy trì tổ chức Hội nghị giao ban khối Ngân hàng và khối QTDND trên địa bàn theo định kỳ hàng quý, để làm đầu mối gắn kết chặt chẽ các TCTD nhằm triển khai kịp thời các cơ chế, chính sách mới, ý kiến chỉ đạo của Thống đốc NHNN, Tỉnh ủy, UBND tỉnh... cũng như kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc về hoạt động tiền tệ, ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật.

NHNN chi nhánh cũng sẽ phối kết hợp với các TCTD tiếp tục tổ chức triển khai Chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp trên địa bàn, tổ chức triển khai thực hiện các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ. Đồng thời chỉ đạo các TCTD thực hiện nghiêm các quy định và chỉ đạo của Thống đốc NHNN Việt Nam về lãi suất; tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Ngọc Bích

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
45.000
45.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
45.000
45.400
Vàng SJC 5c
45.000
45.420
Vàng nhẫn 9999
44.980
45.480
Vàng nữ trang 9999
44.600
45.400