Ngành Ngân hàng Thái Bình: Phát huy vai trò huyết mạch nền kinh tế của tỉnh

09:47 | 07/01/2022

Năm 2021, cùng với cả nước, Thái Bình bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, trong đó tác động không nhỏ đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng trên địa bàn. Nhưng với công tác chỉ đạo, điều hành quyết liệt của NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Bình, sự nỗ lực của các TCTD, hoạt động ngân hàng trên địa bàn tiếp tục ổn định và phát triển, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Nâng hiệu quả nguồn vốn, đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng số

Theo bà Phan Thị Tuyết Trinh - Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Bình, ngay từ đầu năm 2021, ngành Ngân hàng Thái Bình đã triển khai kịp thời các giải pháp nhằm huy động tối đa lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức để đầu tư nền kinh tế. Kết thúc năm 2021, nguồn vốn huy động trên địa bàn tăng trưởng khá, đạt 97.700 tỷ đồng, tăng 14% so với thời điểm 31/12/2020, trong đó, tiền gửi dân cư chiếm 93%.

Nguồn vốn dồi dào giúp các TCTD tập trung mở rộng đầu tư tín dụng đi đôi với tăng cường quản lý chất lượng tín dụng, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp và người dân duy trì phát triển sản xuất, kinh doanh, trong đó ưu tiên vốn cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, cho vay xóa đói giảm nghèo... Đến hết năm 2021, tổng dư nợ cho vay đạt 73.800 tỷ đồng, tăng 13% so với thời điểm 31/12/2020, trong đó, cho vay lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 18,6%, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng chiếm 30,3% và lĩnh vực thương mại, dịch vụ chiếm 51,1% tổng dư nợ cho vay; tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp.

nganh ngan hang thai binh phat huy vai tro huyet mach nen kinh te cua tinh
Thành phố Thái Bình nhìn từ trên cao

Với sự đồng hành của ngành Ngân hàng nên các chỉ số kinh tế của tỉnh cũng đạt mức khả quan. Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh (giá so sánh năm 2010) ước đạt 57.112 tỷ đồng, tăng 6,68% so với năm 2020 (kế hoạch tăng 9,1%). Cơ cấu kinh tế: ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,3%; ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 40,9%; ngành dịch vụ chiếm 29,6%; thuế sản phẩm chiếm 6,2%. Xây dựng nông thôn mới nâng cao tiếp tục được quan tâm chỉ đạo thực hiện theo hướng thực chất và hiệu quả với 4 xã được công nhận đạt nông thôn mới nâng cao. Toàn tỉnh có 7.826 doanh nghiệp và 928 chi nhánh với tổng số vốn đăng ký là 98.769 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách Nhà nước ước thực hiện 20.114,8 tỷ đồng, đạt 137,4% dự toán, tăng 4% so với năm 2020.

Năm 2021, cũng đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số trong ngành Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của các TCTD trên "quê lúa". Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, để phục vụ tốt hơn các nhu cầu của khách hàng, hạn chế tiếp xúc đông người, các TCTD trên địa bàn tỉnh tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng nhất là dịch vụ thanh toán, ngân hàng số...

Chỉ với chiếc điện thoại thông minh được cài đặt app của các ngân hàng, khách hàng có thể trải nghiệm, sử dụng các dịch vụ của ngân hàng mà không phải trực tiếp đến ngân hàng như: gửi tiết kiệm, chuyển tiền, mua sắm online, thanh toán hóa đơn điện, nước, nạp tiền điện thoại, đặt vé máy bay, tàu xe, quét mã VNPAY-QR… Chính vì thế, ngay cả khi dịch Covid-19 diễn biến rất phức tạp nhưng doanh số thanh toán qua ngân hàng vẫn tăng trưởng khá, đạt trên 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 18,7% so với năm 2020; trong đó, thanh toán không dùng tiền mặt chiếm khoảng 76% tổng doanh số thanh toán.

Tích cực hỗ trợ người dân và doanh nghiệp

Không chỉ chú trọng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, thời gian qua, NHNN Chi nhánh tỉnh tăng cường chỉ đạo các TCTD trên địa bàn chủ động thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các giải pháp phòng, chống dịch, bảo đảm không phát sinh, lây lan dịch trong hệ thống ngân hàng, từ đó thực hiện kịp thời, thông suốt hoạt động đầu tư tín dụng, cung ứng các dịch vụ ngân hàng phục vụ doanh nghiệp và nhân dân.

Để hỗ trợ kịp thời đối với khách hàng vay vốn trước tác động của dịch Covid-19, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, NHNN Việt Nam đã ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020, Thông tư số 03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021, Thông tư số 14/2021/TT-NHNN ngày 07/9/2021 hướng dẫn cơ cấu thời hạn trả nợ, miễn lãi vay do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Theo đó, NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Bình đã chủ động ban hành các văn bản triển khai tới các TCTD trên địa bàn để nắm bắt, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của khách hàng trong quá trình tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, đặc biệt là thực hiện các chính sách hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục vay vốn, tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay, tích cực sử dụng công nghệ số nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng.

nganh ngan hang thai binh phat huy vai tro huyet mach nen kinh te cua tinh
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Thái Bình

Đến cuối tháng 12/2021, các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thái Bình đã thực hiện cho vay mới đối với khách hàng bị ảnh hưởng với lãi suất thấp hơn khoảng 2%/năm so với trước khi có dịch, doanh số cho vay đạt 56.290 tỷ đồng; miễn, giảm lãi tiền vay cho 13.160 khách hàng, tổng giá trị nợ đã được miễn, giảm lãi lũy kế 2.590 tỷ đồng, số tiền lãi được miễn, giảm trên 3 tỷ đồng; cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho gần 1.000 khách hàng với dư nợ hơn 830 tỷ đồng; giảm phí dịch vụ thanh toán khoảng 30 - 50% đối với các giao dịch thanh toán qua ngân hàng...

Thực hiện Nghị quyết số 42 và Nghị quyết số 68 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, đến nay, Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Thái Bình đã giải ngân cho vay 7 doanh nghiệp để trả lương ngừng việc cho người lao động với doanh số cho vay hơn 1,2 tỷ đồng, lãi suất cho vay 0%.

Bám sát mục tiêu, duy trì phát triển hệ thống an toàn, hiệu quả

Để hoàn thành các mục tiêu trên trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, ngành Ngân hàng Thái Bình tiếp tục triển khai hiệu quả các giải pháp nhằm thực hiện tốt “mục tiêu kép”, vừa phòng chống dịch, vừa phát huy vai trò huyết mạch của nền kinh tế.

Bà Phan Thị Tuyết Trinh cho biết, năm 2022, NHNN Chi nhánh tỉnh tiếp tục bám sát mục tiêu, định hướng của Ngành, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, triển khai đầy đủ, kịp thời các giải pháp về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng tới các TCTD trên địa bàn; chỉ đạo các TCTD triển khai mạnh mẽ các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, đặc biệt là các biện pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay cho khách hàng; tiếp tục thực hiện cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu. Đồng thời, Chi nhánh cũng tăng cường công tác thanh tra, giám sát, phòng, chống ngăn ngừa vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng; tăng cường quản lý hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân; đẩy mạnh hoạt động thanh toán, bảo đảm an toàn công tác tiền tệ, kho quỹ.

Các TCTD tăng cường công tác huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế thông qua việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, đa dạng hóa các loại hình huy động và cho vay, thực hiện các giải pháp tăng trưởng tín dụng có hiệu quả đi đôi với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, kiểm soát tăng trưởng tín dụng phù hợp với mục tiêu, định hướng chung của Ngành; tiếp tục thực hiện hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng; tăng cường đầu tư, trang bị cơ sở vật chất, hiện đại hóa công nghệ, phát triển sản phẩm, dịch vụ thanh toán theo xu thế phát triển công nghệ 4.0 và đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng dịch vụ của nền kinh tế.

Cùng với đó, thực hiện các giải pháp tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, bền vững đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát và xử lý nợ xấu, trong đó: tập trung tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cho vay nước sạch nông thôn, cho vay ứng dụng công nghệ cao, cho vay xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DNNVV, doanh nghiệp khởi nghiệp, các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, của tỉnh, phù hợp với định hướng của Ngành.

Trên địa bàn tỉnh, ngoài NHNN Chi nhánh tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, còn có 26 ngân hàng và 85 quỹ tín dụng nhân dân hoạt động, với 8 chi nhánh cấp huyện, thành phố, 92 phòng giao dịch, 45 quỹ tín dụng nhân dân mở rộng địa bàn sang 64 xã liền kề và 260 điểm giao dịch của Ngân hàng Chính sách xã hội trải rộng khắp các xã, phường, thị trấn trong tỉnh.

Chí Kiên - Ngọc Hải

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.540 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.255 23.535 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.274 23.789 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.249 23.540 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.400
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.400
67.400
Vàng SJC 5c
66.400
67.420
Vàng nhẫn 9999
52.700
53.600
Vàng nữ trang 9999
52.600
53.200