NHTW Úc tiếp tục thắt chặt tiền tệ

07:57 | 06/07/2022

Ngân hàng Dự trữ Úc (Reserve Bank of Australias - RBA) hôm 5/7 đã quyết định tăng tiếp lãi suất lên mức cao nhất trong hơn 3 năm qua và tái khẳng định cam kết làm bất cứ điều gì cần thiết để giải quyết lạm phát.

Thắt chặt nhanh nhất kể từ năm 1994

Kết thúc cuộc họp chính sách tháng 7, RBA quyết định tăng lãi suất thêm 50 điểm cơ bản lên 1,35%, mức cao nhất kể từ tháng 5/2019. Đây là lần tăng lãi suất thứ 3 liên tiếp của RBA kể từ khi bắt đầu chu kỳ thắt chặt vào tháng 5 năm nay và là lần thứ hai liên tiếp cơ quan này tăng lãi suất tới 50 điểm, đánh dấu chuỗi thắt chặt chính sách nhanh nhất kể từ năm 1994.

“Việc tăng lãi suất ngày hôm nay là một bước tiến xa hơn trong việc rút lại chính sách hỗ trợ tiền tệ bất thường đã được đưa ra để bảo đảm nền kinh tế Australia chống lại những tác động tồi tệ nhất có thể xảy ra của đại dịch”, Thống đốc RBA Philip Lowe cho biết trong một tuyên bố phát đi sau quyết định của RBA. “Khả năng phục hồi của nền kinh tế và lạm phát cao hơn có nghĩa là sự hỗ trợ bất thường này không còn cần thiết nữa”.

nhtw uc tiep tuc that chat tien te
Ngân hàng Dự trữ Úc

Theo đó ông Philip Lowe tự tin rằng nền kinh tế có thể chịu đựng được sự xáo trộn với tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất trong 5 thập kỷ là 3,9% và tỷ lệ thiếu việc làm ở mức cao nhất mọi thời đại. Trong khi nhu cầu của các hộ gia đình cũng vẫn được duy trì tốt, một phần nhờ vào 260 tỷ đôla Úc (tương đương 178,59 tỷ USD) tiền tiết kiệm được tích lũy trong thời gian đất nước đóng cửa vì đại dịch.

“Dữ liệu chi tiêu gần đây là tích cực, mặc dù ngân sách hộ gia đình đang chịu áp lực từ giá cả cao hơn và lãi suất cao hơn”, Thống đốc RBA cho biết. “Hội đồng sẽ chú ý đến những ảnh hưởng khác nhau đến chi tiêu hộ gia đình vì nó đánh giá việc thiết lập chính sách tiền tệ phù hợp”.

Tuy nhiên theo giới chuyên gia, chi phí đi vay cao hơn chắc chắn sẽ là một lực cản đối với sức chi tiêu do các hộ gia đình mắc khoản nợ thế chấp trị giá 2 nghìn tỷ đôla Úc và giá trị nhà bắt đầu trượt dốc. Theo ước tính của giới chuyên môn, với việc lãi suất đã tăng tổng cộng 125 điểm cơ bản, các hộ gia đình sẽ phải trả thêm 400 đôla Úc mỗi tháng cho khoản nợ thế chấp 620.000 đôla Úc; chưa kể chi phí cho năng lượng, xăng dầu, thực phẩm cũng đang tăng cao.

Sẽ chưa dừng lại

Tuy nhiên động thái tăng lãi suất của RBA sẽ còn tiếp tục bởi lạm phát tại Úc vẫn đang rất nóng. Số liệu chính thức về lạm phát quý hai sẽ được công bố vào cuối tháng này và dự kiến sẽ cho thấy một mức tăng đáng báo động khác lên 6% hoặc hơn, mức chưa từng thấy kể từ khi thuế bán hàng quốc gia được áp dụng vào năm 2000. Lạm phát cơ bản cũng có khả năng tăng nhanh lên trên 4,0% và có thể còn cao hơn, vượt xa so với biên độ mục tiêu của RBA là 2-3%.

Đó chính là lý do mà RBA, cũng giống như Fed, tái khẳng định cam kết sẽ làm bất cứ điều gì để hạ nhiệt lạm phát. "Hội đồng dự kiến sẽ thực hiện các bước tiếp theo trong quá trình bình thường hóa các điều kiện tiền tệ ở Úc trong những tháng tới”, Thống đốc Philip Lowe cho biết.

Trước đó ông Lowe đã cảnh báo rằng, lãi suất có thể được tăng lên mức 2,5%. Tuy nhiên với diễn biến hiện tại, thị trường đang kỳ vọng RBA sẽ tiếp tục tăng lãi suất thêm 50 điểm cơ bản nữa trong tháng 8 và đưa lãi suất lên ít nhất là 3,0% vào cuối năm.

Thậm chí có ý kiến cho rằng RBA có thể sẽ thực hiện một đợt tăng lãi suất 75 điểm tương tự như Fed. Thế nhưng theo Diana Mousina - Nhà kinh tế cấp cao tại AMP Capital Markets, RBA sẽ chỉ tăng thêm nửa điểm nữa vào tháng 8 và không thấy cần thiết phải tuân theo Fed với mức tăng 75 điểm cơ bản. “Hiện không có dấu hiệu nào cho thấy RBA sẽ làm nhiều hơn những gì họ đã thực hiện”, bà nói.

Mousina cũng lưu ý rằng, trong khi các khoản vay mua nhà tại Mỹ phổ biến với lãi suất cố định thì các khoản vay mua nhà tại Úc phổ biến là với lãi suất thay đổi. Bởi vậy việc lãi suất đã tăng 125 điểm cơ bản kể từ tháng 5 sẽ có tác động nhanh hơn đến nhu cầu.

Chưa kể hiện chi phí sinh hoạt cũng đang tăng cao và tỷ lệ nợ trên thu nhập của các hộ gia đình Úc cũng đạt mức cao kỷ lục 187%. Bởi vậy Bộ trưởng Ngân khố Úc Jim Chalmers cũng thừa nhận, quyết định tăng lãi suất của RBA là “tin rất khó khăn” đối với các hộ gia đình.

Các nhà kinh tế đã hạ dự báo tăng trưởng của nền kinh tế trị giá 2,1 nghìn tỷ đôla Úc trong những tuần gần đây, thậm chí Nomura Holdings Inc còn dự báo về một cuộc suy thoái của kinh tế Úc.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.350
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.850