Nợ công giảm mạnh, bội chi ngân sách nhà nước dần được kiểm soát

09:26 | 15/10/2020

Sau 5 năm nỗ lực cơ cấu lại nền kinh tế, đã có 5 mục tiêu vượt xa kế hoạch và trong đó 3 mục tiêu thuộc lĩnh vực tài chính, ngân sách, an toàn tài chính quốc gia được bảo đảm, nợ công giảm mạnh giảm áp lực trả nợ lên ngân sách nhà nước (NSNN).

no cong giam manh boi chi ngan sach nha nuoc dan duoc kiem soat Tăng trưởng có thể chỉ 2%, nợ công lên tới 59%
no cong giam manh boi chi ngan sach nha nuoc dan duoc kiem soat Tăng tỷ lệ nợ công thêm từ 2-3% GDP: "Vẫn đảm bảo chỉ tiêu cho phép"
no cong giam manh boi chi ngan sach nha nuoc dan duoc kiem soat IMF cắt giảm dự báo tăng trưởng toàn cầu, cảnh báo nợ công tăng cao

Nợ công năm 2020 ước khoảng 56,8% GDP

Nghị quyết số 24/2016/QH14 của Quốc hội đề ra 22 mục tiêu cụ thể về cơ cấu lại nền kinh tế đến năm 2020. Báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội Chính phủ cho biết sau 5 năm nỗ lực thực hiện, Nghị quyết số 24/2016/QH14, đến nay đã hoàn thành 14 mục tiêu, và có 1 mục tiêu dự kiến hoàn thành. Như vậy đã hoàn thành phần lớn các mục tiêu đặt ra.

Đáng chú ý, có 5 mục tiêu quan trọng đã hoàn thành vượt xa so với kế hoạch đề ra, đó là năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 ước đạt 43,16%, vượt xa so với mục tiêu 30%-35% được đề ra trong nghị quyết, quy mô nợ công và nợ Chính phủ và tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm mạnh và dư nợ thị trường trái phiếu đến năm 2019 đạt 40,14% vượt xa so với mục tiêu đến năm 2020 đạt 30% GDP. Như vậy trong 5 mục tiêu đã hoàn thành vượt kế hoạch thì có 3 mục tiêu thuộc lĩnh vực tài chính ngân sách.

no cong giam manh boi chi ngan sach nha nuoc dan duoc kiem soat

Trong những kết quả vượt mục tiêu đó đáng chú ý là nợ công đã giảm mạnh. Nếu như năm 2016, nợ công bằng 63,7% GDP cuối năm 2016, năm 2019 giảm xuống 55% GDP. Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nợ công có thể tăng đến 56-57% GDP, song vẫn thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu đặt ra cho giai đoạn 2016-2020 là không quá 65% GDP. Trong báo cáo gửi Quốc hội về kết quả thực hiện các nghị quyết của Quốc hội trong lĩnh vực tài chính, Chính phủ dự kiến đến ngày 31/12/2020, so với GDP ước thực hiện, dư nợ công bằng khoảng 56,8%, dư nợ chính phủ bằng khoảng 50,8%. Việc thực hiện kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ cho cân đối NSNN được điều hành, quản lý trong phạm vi dự toán Quốc hội quyết định.

Nợ Chính phủ cũng giảm mạnh từ 52,7% GDP năm 2016 xuống mức 47,7% GDP năm 2019, thấp hơn khá nhiều so với mục tiêu không quá 54%. Nợ nước ngoài quốc gia năm 2019 chỉ khoảng 47,0% GDP.

Bội chi NSNN giảm cả số tuyệt đối và tương đối

Cơ cấu lại NSNN, khu vực công là một trong 5 nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra trong Nghị quyết 24 của Quốc hội. Báo cáo của Chính phủ cho thấy nhiệm vụ cơ cấu lại NSNN, khu vực công được giao tại Nghị quyết 24 đã đạt nhiều kết quả ấn tượng. Trong đó cơ cấu thu và chi ngân sách đã có những cải thiện đáng kể. Cơ cấu NSNN thay đổi tích cực về quy mô, cơ cấu thu, chi. Quy mô thu NSNN được cải thiện, cơ cấu thu bền vững hơn. Giai đoạn 2016-2020, tổng thu NSNN đạt khoảng 24,36% GDP, trong đó tỷ trọng thu nội địa tiếp tục được cải thiện, bình quân 5 năm 2011-2015 là 68,7%; năm 2016 là 80,5%, cập nhật 3 năm 2017-2019 là 81,08%.

Cơ cấu chi NSNN đã tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng chi thường xuyên. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển năm 2016 chiếm 28,18% tổng chi NSNN giảm xuống 24,99% năm 2019, dự toán năm 2020 là 26,94%; tỷ trọng chi thường xuyên cũng giảm dần tương ứng.

Theo Chính phủ, trong giai đoạn vừa qua, bội chi NSNN được quản lý chặt chẽ, đã được kiểm soát dần và đã giảm cả về số tuyệt đối và tương đối so với dự toán. Năm 2016 bội chi 5,12% GDP năm 2019 giảm còn 3,4% GDP, dự toán năm 2020 là 3,44% GDP. Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, Chính phủ cho biết có thể bội chi NSNN thực tế sẽ cao hơn mức dự toán năm 2020, dự kiến ước khoảng 319,4 nghìn tỷ đồng, bằng 4,99% GDP.

Để tiếp tục cơ cấu lại ngân sách, Chính phủ cho biết sẽ xây dựng kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021-2025 trong đó bao gồm mức trần và ngưỡng cảnh báo về nợ theo hướng thấp hơn so với giai đoạn 2016 - 2020 để đảm bảo an toàn nợ công và khả năng trả nợ của ngân sách, tạo dư địa tài khóa để ứng phó với nghĩa vụ nợ dự phòng của NSNN, với rủi ro thị trường hay cú sốc vĩ mô trong bối cảnh mới.

Báo cáo với Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ thẳng thắn cho biết, bên cạnh kết quả đạt được, tài chính - ngân sách cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục cải thiện. Cơ cấu chi ngân sách vẫn mất cân đối, chi thường xuyên vẫn tiếp tục tăng nhanh hơn chi đầu tư. Bộ máy nhà nước, khu vực công còn cồng kềnh, chậm được đổi mới là nguyên nhân quan trọng dẫn đến áp lực chi ngân sách còn lớn, hiệu quả chi không cao. Hệ thống thu NSNN chưa thực sự bền vững, dư địa thu NSNN giảm, nhất là trong bối cảnh Covid-19. Tình trạng chuyển giá, trốn thuế gây thất thu NSNN, nhất là khu vực ngoài quốc doanh, khu vực FDI lớn. Mục tiêu đặt ra là tỷ trọng thu ngân sách trung ương bình quân vào khoảng 60-65% nhưng đến nay mới đạt 55%. Bên cạnh đó vai trò đóng góp của các cực tăng trưởng là Hà Nội và TP.HCM có chiều hướng chững lại. Nợ công tuy đã có xu hướng giảm nhưng chưa bền vững, vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro do diễn biến đại dịch Covid-19 khó lường, cạnh tranh kinh tế, địa chính trị giữa các nước trên thế giới gay gắt, biến đổi khí hậu cực đoan.

Tập trung cải thiện dư địa chính sách tài khóa

Để bảo đảm cho nền tài chính quốc gia, trong giai đoạn 2021 - 2025 sắp tới, Chính phủ xác định định hướng về cơ cấu lại NSNN, khu vực công vẫn là tập trung tiếp tục cơ cấu lại thu chi NSNN, tăng tỷ lệ thu nội địa, tăng tích lũy từ NSNN cho đầu tư phát triển; tăng sức chống chịu, bảo đảm an toàn, an ninh tài chính quốc gia. Đồng thời, cơ cấu lại NSNN, nợ công, cải thiện dư địa chính sách tài khóa. Đẩy mạnh việc quản lý tài chính-ngân sách trung hạn, quán triệt nguyên tắc chi trong phạm vi nguồn lực, vay trong phạm vi trả nợ, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất giữa kế hoạch đầu tư công trung hạn với kế hoạch nợ công, kế hoạch tài chính 5 năm.

Chính phủ cho biết, đối với chính sách thu, sẽ hoàn thiện phù hợp với trình độ phát triển, mở cửa nền kinh tế, hướng tới thông lệ chung; hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp, điều chỉnh giảm thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp với từng thời kỳ. Trong quản lý chi NSNN, phân định rõ vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường; rà soát các chương trình, chính sách, nhất là các chính sách an sinh xã hội để bảo đảm sử dụng ngân sách tập trung và hiệu quả cao. Nghiên cứu sửa đổi cơ chế phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách theo hướng đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, khuyến khích tính chủ động của địa phương; đồng thời tính tới hiệu quả kinh tế của việc cung cấp các hàng hóa dịch vụ hành chính, sự nghiệp công.

Linh Ly

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.460 22.770 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.490 22.770 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.470 22.770 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.500 22.760 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.520 22.720 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.520 22.720 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.485 22.830 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.500 22.780 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.520 22.720 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.540 22.720 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.900
62.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.900
62.550
Vàng SJC 5c
61.900
62.570
Vàng nhẫn 9999
53.700
54.400
Vàng nữ trang 9999
52.464
53.564