Phát triển thị trường vốn an toàn, minh bạch, hiệu quả

10:28 | 23/09/2022

Dù đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức khó lường, nhưng thị trường vốn Việt Nam được kỳ vọng sẽ phát triển mạnh mẽ và cân bằng hơn trong giai đoạn mới, thực hiện tốt vai trò huyế́t mạch trong nền kinh tế, góp sức thúc đẩy phát triển kinh tế và hoàn thành các mục tiêu chiến lược mà Đảng và nhà nước đã đề ra trong giai đoạn 2021-2030.

phat trien thi truong von an toan minh bach hieu qua Trái phiếu doanh nghiệp: "Mảnh ghép" chậm hoàn thiện trên thị trường vốn
phat trien thi truong von an toan minh bach hieu qua Kiến tạo thị trường vốn lành mạnh, minh bạch hơn
phat trien thi truong von an toan minh bach hieu qua Thị trường vốn: Lành mạnh để phát triển bền vững

Sau 20 năm phát triển, thị trường vốn của Việt Nam phát triển nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu, góp phần huy động được nguồn lực tài chính rất quan trọng cho nền kinh tế. Tuy vậy, theo TS. Vũ Nhữ Thăng, Phó Chủ tịch phụ trách Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, bên cạnh sự phát triển nhanh trong thời gian qua, thị trường vốn Việt Nam hiện vẫn còn nhiều thách thức.

Tăng trưởng nhanh nhưng thiếu bền vững

Quy mô thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh và từng bước thu hẹp khoảng cách với thị trường tiền tệ, chia sẻ vai trò kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, giảm rủi ro phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngắn hạn của hệ thống ngân hàng thương mại.

Trên cả ba thị trường ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, các sản phẩm dịch vụ tài chính phát triển nhanh, xuất hiện nhiều sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của các khách hàng và nhà đầu tư.

phat trien thi truong von an toan minh bach hieu qua
Vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 70,9% GDP.

Tình hình tài chính và hoạt động của các định chế tài chính nhìn chung đảm bảo an toàn, ổn định. Hoạt động cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém kết hợp với xử lý nợ xấu đã đạt được các kết quả tích cực. Các ngân hàng đã có bước tiến lớn trong việc đáp ứng các yêu cầu an toàn vốn theo các thông lệ quốc tế… Cùng với đó, hệ thống công ty chứng khoán, công ty Quản lý quỹ được tái cơ cấu, lành mạnh hóa tài chính, chất lượng tài sản được cải thiện.

Theo đó, tính đến 30/6/2021, 82 công ty chứng khoán trên thị trường có tổng tài sản đạt 277 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7 lần so với cuối 2016, tổng vốn chủ sở hữu đạt 104 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3 lần. Tỷ lệ nợ có vấn đề giảm xuống 2,1% từ mức 6,4% năm 2016. Đến 30/6/2021, có 46 công ty quản lý quỹ đang hoạt động với vốn chủ sở hữu đạt 5,5 nghìn tỷ đồng, tăng 33%.

Tuy nhiên, ông Thăng chỉ ra vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 70,9% GDP (tại thời điểm 30/6/2022), nhỏ hơn các thị trường cổ phiếu trong khu vực (từ 93-243% GDP, ngoại trừ Indonesia). Trong đó, khoảng 35% tổng vốn hóa thị trường thuộc sở hữu nhà nước, còn hạn chế về sở hữu và tính thanh khoản. Bên cạnh đó, dư nợ thị trường trái phiếu còn thấp hơn khá nhiều so với thị trường cổ phiếu và một số thị trường khu vực.

Các doanh nghiệp niêm yết thuộc các ngành có tính chu kỳ cao là tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm), bất động sản, xây dựng chiếm khoảng 65% tổng vốn hóa. Trong khi đó, chưa có nhiều doanh nghiệp niêm yết thuộc các ngành công nghệ, y tế, logistics, dịch vụ… Một số doanh nghiệp có dấu hiệu tăng vốn “khống”; sử dụng sai mục đích, giá cổ phiếu biến động thất thường, không gắn liền với chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Còn nhiều doanh nghiệp nhà nước đã tiến hành cổ phần hóa nhưng chưa tiến hành niêm yết trên thị trường cổ phiếu.

Một yếu tố khác, nhà đầu tư cá nhân chiếm khoảng 80-85% giao dịch trên thị trường cổ phiếu, phần lớn tự đầu tư thay vì ủy thác qua các quỹ đầu tư chuyên nghiệp nên ảnh hưởng lớn đến tính bền vững của chỉ số VN-Index. Đáng chú ý, mặc dù số lượng tài khoản nhà đầu tư cá nhân tăng đột biến trong giai đoạn 2020-2022, nhưng nhiều tài khoản không hoặc ít giao dịch. Trong khi đó, hệ thống nhà đầu tư tổ chức trong nước còn thiếu các quỹ hưu trí dài hạn; vai trò của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng chưa cao.

Việc công bố thông tin của doanh nghiệp còn một số tồn tại như báo cáo tài chính chưa kiểm toán của doanh nghiệp niêm yết chênh lệch lớn so với báo cáo tài chính được kiểm toán. Doanh nghiệp vi phạm về công bố thông tin giao dịch của cổ đông lớn, cổ đông nội bộ và người có liên quan còn khá phổ biến. Quản trị công ty đại chúng còn một số hạn chế. Chất lượng một số tổ chức trung gian chưa đảm bảo, chưa đáp ứng tốt yêu cầu minh bạch, năng lực thẩm định để có hàng hóa chất lượng cho thị trường.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý

Dù đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức khó lường, nhưng thị trường vốn Việt Nam được kỳ vọng sẽ phát triển mạnh mẽ và cân bằng hơn trong giai đoạn mới, thực hiện tốt vai trò huyế́t mạch trong nền kinh tế, góp sức thúc đẩy phát triển kinh tế và hoàn thành các mục tiêu chiến lược mà Đảng và nhà nước đã đề ra trong giai đoạn 2021-2030.

Song, để phát triển thị trường vốn an toàn, minh bạch, hiệu quả, bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, huy động nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, TS. Vũ Nhữ Thăng cho rằng, Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường vốn. Trong đó, tập trung phát triển cơ sở nhà đầu tư thông qua hoàn thiện quy định về nhà đầu tư chuyên nghiệp dựa trên thực tiễn thị trường; khuyến khích nhà đầu tư cá nhân đầu tư qua các quỹ chuyên nghiệp thông qua ưu đãi về thuế, phí; hoàn thiện khung pháp lý đối với việc thành lập, vận hành, cơ chế tài chính để phát triển các loại hình quỹ ETF, quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ đầu tư trái phiếu, quỹ tiền tệ... 

Bên cạnh đó, cần tăng quy mô thị trường chứng khoán và đa dạng hóa sản phẩm trong giai đoạn 2021 - 2025.

"Cần nghiên cứu ban hành các chính sách ưu đãi để thúc đẩy các doanh nghiệp cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán như, hỗ trợ chi phí về công bố thông tin, kiểm toán doanh nghiệp niêm yết; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn đối với doanh nghiệp thuộc các ngành nghề ưu tiên phát triển, gắn với tái cơ cấu nền kinh tế như năng lượng xanh, kinh tế xanh, công nghiệp phụ trợ…", ông Thăng đề xuất.

Trong giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan quản lý cần tiếp tục nghiên cứu, ban hành các quy định về bảo vệ người tiêu dùng sản phẩm tài chính, hướng dẫn sử dụng Fintech trong lĩnh vực chứng khoán; Kiên quyết yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa có đủ điều kiện phải niêm yết/đăng ký giao dịch cổ phiếu.

Đồng thời, cần nghiên cứu thiết lập thị trường giao dịch tập trung cho các trái phiếu doanh nghiệp và thị trường dành cho các doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (starup, fintech), vừa góp phần phát triển cân đối các cấu phần thị trường trên thị trường chứng khoán vừa tạo thêm nguồn cung hàng hóa cho thị trường. Bên cạnh đó cần tiếp tục cải thiện các yêu cầu về công bố thông tin, quản trị doanh nghiệp, nâng cao các hình thức xử phạt.

Ông Thăng cũng đề nghị sớm phê duyệt đề án thành lập trung tâm tài chính khu vực và quốc tế có tính đột phá, có khả năng cạnh tranh quốc tế cao, kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng khóa XIII đề ra.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.575 23.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.553 23.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.555 23.845 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.592 23.967 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.350
51.250
Vàng nữ trang 9999
50.250
50.850