Sự tín nhiệm - Thứ khó kiếm, dễ mất

10:45 | 05/03/2021

Một số thị trường mới nổi với những động thái chính sách thuyết phục và tham vọng đã giành được cho mình sự ổn định tạm thời. Nhưng gia tăng được sự tín nhiệm, lòng tin thay vì bị giảm đi luôn là vấn đề rất khó giải quyết.

Thành công có, thất bại cũng có

Một số thị trường mới nổi đã tìm cách thoát khỏi sự tàn phá của Covid-19 bằng cách triển khai tất cả các công cụ chính sách tiền tệ một cách thông minh và đầy tham vọng. Một số thị trường khác đã hành xử chính xác như những gì thị trường dự đoán trước cuộc khủng hoảng vì Covid-19 hiện nay - cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái - với việc các NHTW cố gắng tránh một đợt giảm giá lớn (tháo chạy ồ ạt của các NĐT). Ranh giới khó nắm bắt và cũng là sự khác biệt giữa hai nhóm này chính là ở khả năng duy trì sự tín nhiệm (lòng tin).

Trong một báo cáo nghiên cứu gần đây, David Lubin, người đứng đầu Bộ phận kinh tế thị trường mới nổi tại Citigroup đã cố gắng tìm ra các lý do vì sao một số nền kinh tế đang phát triển đã “tránh xa” việc sử dụng các chính sách thử nghiệm - vốn từng khiến các NĐT toàn cầu phải tháo chạy vì lo sợ trước tình trạng lạm phát tăng cao, tiền tệ suy yếu và vai trò độc lập của NHTW bị xói mòn.

su tin nhiem thu kho kiem de mat
Indonesia được đánh giá đang thành công trong xây dựng niềm tin với các NĐT

Indonesia là một ví dụ. Để đối phó với khủng hoảng gây ra bởi đại dịch Covid-19, Chính phủ đã cho phép NHTW nước này (BI) mua trực tiếp trái phiếu Chính phủ (thay vì chỉ được phép mua trái phiếu thông qua thị trường thứ cấp như trước đây). Cùng với đó, BI đã có một số lần hạ lãi suất điều hành; duy trì sự ổn định của đồng rupiah bằng cách tăng cường can thiệp vào thị trường giao ngay, thị trường hợp đồng kỳ hạn, mua trái phiếu trên thị trường thứ cấp, ký kết các thỏa thuận hoán đổi tiền tệ song phương với một số NHTW lớn như Mỹ và Trung Quốc, cung cấp thêm các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá thông qua các hợp đồng kỳ hạn không giao dịch, thỏa thuận mua lại có kỳ hạn… nhằm đáp ứng nhu cầu của các ngân hàng; bơm một lượng lớn thanh khoản thông qua chính sách nới lỏng định lượng vào thị trường tài chính và các ngân hàng nhằm tăng cường thanh khoản cho thị trường và khởi động quá trình phục hồi kinh tế; thúc đẩy các giao dịch kinh tế và tài chính phi tiền mặt…

Hay một trường hợp khác là Hàn Quốc. NHTW nước này đã liên tục cắt giảm lãi suất về mức rất thấp và thường xuyên mua vào trái phiếu chính phủ - một cách thức khác trong triển khai nới lỏng định lượng. Hai quốc gia này từng là “những thảm họa lớn nhất” trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1990. Tuy nhiên hai thập kỷ sau, các thị trường này dường không bị xáo trộn nhiều trước các động thái trên của cơ quan quản lý.

Nhưng điều tương tự không diễn ra ở những nền kinh tế khác như Thổ Nhĩ Kỳ, nền kinh tế đã bị các NĐT “trừng phạt” (tháo chạy) và buộc NHTW nước này phải tiếp tục tăng lãi suất để ngăn chặn sự sụp đổ của thị trường. Argentina, quốc gia có đồng nội tệ hoạt động kém nhất trong số các thị trường mới nổi trong 3 tháng qua, cũng đã phải tăng lãi suất. Lãi suất cũng được dự báo sẽ tăng ở Nigeria, khi mặt bằng giá cả đã tăng lên và ở Nam Phi, nơi kỳ vọng lạm phát cũng đã tăng lên đáng kể.

Gây dựng và giữ được tín nhiệm

Một trong những điểm chính dẫn đến sự khác biệt giữa hai nhóm quốc gia đó chính là mức độ tin tưởng của các NĐT. Ở các quốc gia đã giành được niềm tin (như Indonesia và Hàn Quốc), hệ thống chính trị tương đối ổn định, các chính sách đáng tin cậy và các tuyên bố của các quan chức được coi trọng vì họ đã thực hiện đúng như thông điệp đưa ra. Theo các chuyên gia của Citigroup, khi đã có được niềm tin của các NĐT, dư địa sẽ linh hoạt hơn nhiều để theo đuổi các chính sách. “Giữ niềm tin chính là cần đảm bảo rằng, cách tiếp cận “độc đáo”, phi truyền thống mà cơ quan quản lý đưa ra có giới hạn và thời hạn nhất định, trong đó cần nêu rõ mục đích và thời lượng của chính sách đó, đồng thời duy trì kỷ luật thông điệp trong một khung thời gian phù hợp”, chuyên gia David Lubin nói.

Và đây chính là lý do đã giúp Indonesia thành công trong duy trì niềm tin. Khi BI đưa ra thông báo mua trực tiếp trái phiếu chính phủ vào tháng 7/2020 (với giá trị lên tới 27 tỷ USD), họ đã tổ chức một cuộc họp báo, tuyên bố rõ ràng về cách thức thực hiện và cam kết chương trình này sẽ có giới hạn. BI cũng có thành tích kiềm chế lạm phát tốt. Chỉ số CPI chỉ tăng 1,4% trong tháng Hai vừa qua so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn nhiều so với mục tiêu từ 2- 4% đặt ra. Những nỗ lực của BI đã được đền đáp. Mặc dù các quan chức BI cho biết sẵn sàng can thiệp vào thị trường để bảo vệ đồng nội tệ và thực tế đã cắt giảm lãi suất 0,25% trong tháng Hai vừa qua (là lần hạ lãi suất thứ sáu của BI kể từ đầu năm 2020 đến nay với tổng cộng 1,5%, đưa lãi suất hiện ở mức thấp kỷ lục) nhưng thị trường vẫn tương đối ổn định.

Việc Indonesia lấy lại được uy tín - dù rất khó khăn - sau thất bại vào cuối những năm 1990 là một chỉ báo tốt cho các thị trường mới nổi khác. Các cơ quan quản lý tiền tệ ở những nơi khác ở châu Á đã và đang cố gắng dẹp bỏ mối hoài nghi của NĐT rằng lãi suất có thể ở mức đáy, đặc biệt là trong bối cảnh dự báo lạm phát sẽ tăng. Mới tuần trước, Hàn Quốc đã công bố chương trình mua trái phiếu đến giữa năm. Tại Ấn Độ, các nhà hoạch định chính sách tiết lộ mức thâm hụt ngân sách lớn vào tháng 2 và NHTW đang vào mua trái phiếu nhưng cố gắng giới hạn lợi suất ở mức khoảng 6%.

Nhưng cho dù tỷ lệ tăng trưởng của họ có hấp dẫn như thế nào so với phương Tây hay Nhật Bản, các nền kinh tế này vẫn đều có một lỗ hổng lớn: Họ không kiểm soát được “số phận” của chính mình khi còn phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến tình hình bên ngoài, đặc biệt là các quyết định của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Một “bài kiểm tra sức chịu đựng” thực sự có thể đến trong các trường hợp như khi Fed đưa ra quyết định đã đến lúc bàn về việc cắt giảm nới lỏng. Chỉ cần một thông điệp hay hành động nhỏ của Fed cũng có thể khiến thị trường toàn cầu đảo chiều.

Tựu trung lại, chuyên gia David Lubin cho rằng, một số thị trường mới nổi với những động thái chính sách thuyết phục và tham vọng đã giành được cho mình sự ổn định tạm thời. Nhưng gia tăng được sự tín nhiệm, lòng tin thay vì bị giảm đi luôn là vấn đề rất khó giải quyết. “Bài học quan trọng cho năm thứ hai của đại dịch Covid-19 là: Niềm tin của NĐT rất khó đạt được nhưng lại rất dễ mất đi”, Lubin nói.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.923 23.173 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.972 23.184 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.966 23.166 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.830
55.250
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.830
55.230
Vàng SJC 5c
54.830
55.250
Vàng nhẫn 9999
51.250
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550