Sức ép từ Fed tăng lãi suất

14:44 | 17/06/2022

Trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới tăng lãi suất liên tục trong năm 2021 và 6 tháng đầu năm 2022, từ đầu năm đến nay lãi suất cho vay tăng rất nhẹ, chỉ 0,09% là nỗ lực rất lớn của NHNN, của hệ thống TCTD đã đồng hành cùng nền kinh tế để duy trì mức lãi suất cho vay hợp lý, không gây gánh nặng cho doanh nghiệp và người dân, cố gắng vượt qua cuộc khủng hoảng Covid-19 thời gian tới.

suc ep tu fed tang lai suat Cục Dự trữ Liên bang Mỹ nâng lãi suất mạnh nhất trong 30 năm

Áp lực xu hướng tăng

Ngày 15/6, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã nâng lãi suất tham chiếu thêm 75 điểm cơ bản (0,75%), mức tăng mạnh nhất kể từ năm 1994. Các thành viên của Uỷ ban thị trường mở Liên bang (FOMC) cũng dự đoán, lãi suất chuẩn của Fed có thể dừng lại ở mức 3,4% vào cuối năm nay - đồng nghĩa với việc tăng 1,5% so với ước tính hồi tháng 3/2022. Đến năm 2023, mức lãi suất có thể lên tới 3,8% - cao hơn 1% so với dự đoán trước đó.

Giới chuyên gia nhìn nhận, việc Fed tăng lãi suất chắc chắn sẽ có những tác động rất lớn lên mặt bằng lãi suất và tỷ giá trong nước. Với mức độ tăng trưởng tín dụng cao hơn so với cùng kỳ (tính tới 9/6/2022 tín dụng tăng 8,15% so với cuối năm 2021 và tăng 17,09% so với cùng kỳ năm 2021), cộng thêm áp lực lạm phát, lãi suất huy động sẽ chịu áp lực tăng.

Theo Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS), lãi suất cho vay khó có thể tránh khỏi những áp lực nhất định khi lãi suất huy động đã nhích tăng từ đầu năm và có đợt điều chỉnh mạnh vào tháng 5/2022 tại các NHTMCP với mức tăng trung bình 10 - 20 điểm, có ngân hàng tăng 70 điểm ở kỳ hạn 12 tháng. Tính từ đầu năm tới nay, lãi suất huy động đã tăng 30 - 60 điểm. Do lãi suất huy động có thể chịu áp lực tăng 100-150 điểm cơ bản trong cả năm 2022, VCBS dự đoán lãi suất cho vay sẽ ghi nhận áp lực tăng, tuy nhiên sẽ có độ trễ so với thời điểm tăng của lãi suất huy động; đồng thời lãi suất cho vay sẽ có sự phân hoá giữa mức tăng và thời điểm tăng giữa các ngành nghề.

suc ep tu fed tang lai suat
Fed tăng lãi suất tạo áp lực đến mặt bằng lãi suất tại Việt Nam

TS. Cấn Văn Lực cho hay, chủ trương của NHNN là yêu cầu NHTM phấn đấu để giảm thêm lãi suất hỗ trợ cho quá trình phục hồi của nền kinh tế, song NIM của nhiều ngân hàng hiện đang giảm, chỉ còn khoảng 2,9%.

Thực tế, biến động giá dầu tăng cao, kết hợp với cú sốc về chuỗi cung ứng dẫn đến áp lực lên mặt bằng giá cả của Việt Nam thời gian tới là rất lớn, dù trong 5 tháng đầu năm Chính phủ và NHNN đã có nhiều biện pháp để kìm giữ lạm phát. Lạm phát tăng đang gây nhiều khó khăn cho điều hành CSTT. Bên cạnh lạm phát còn là xu hướng tăng lãi suất trên thế giới.

Ông Phạm Chí Quang - Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, trong năm 2021, có 113 lượt tăng lãi suất và xu hướng thắt chặt tiền tệ đang xảy ra nhanh hơn, cường độ cao hơn trong 5 tháng đầu năm 2022. Chỉ riêng trong 5 tháng đầu năm 2022, tính đến ngày 13/6/2022, đã có 144 lượt tăng lãi suất trên phạm vi toàn cầu.

Nỗ lực duy trì ổn định

Về tỷ giá, đến nay, chỉ số USD đã lên đến trên 105% - tăng trên 90% so với cuối năm 2021. Do USD tăng giá, hầu hết các đồng tiền trên thế giới, đồng tiền cơ bản, đặc biệt đồng tiền trong khu vực châu Á đều mất giá rất lớn: đồng Nhân dân tệ mất giá 5,3%; đồng won Hàn Quốc (KRW) là 4,7%; Đô la Đài Loan (TWD) mất giá 6%; đồng Baht Thái là 3,4%; cá biệt đồng Yên Nhật (JPY) mất giá gần 16%... Tuy nhiên, với bối cảnh mất giá của nhiều đồng tiền trong khu vực là những đối tác có quan hệ thương mại đầu tư lớn với Việt Nam, NHNN dưới sự chỉ đạo của Chính phủ đã duy trì kiểm soát thị trường ngoại tệ ổn định và đến nay VND chỉ mất giá nhẹ - khoảng 1,8%.

Theo ông Quang, để có được nỗ lực như vậy, NHNN đã thực hiện chủ trương “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, vì mục tiêu quan trọng nhất, hàng đầu là giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát được lạm phát theo đúng tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khoá, tiền tệ hỗ trợ Chương trình. NHNN đã lường đón để có những giải pháp ứng phó đa dạng, sử dụng đồng bộ, linh hoạt các công cụ từ lãi suất, thanh khoản, tín dụng, tỷ giá và các công cụ kiểm soát tỷ lệ an toàn để đảm bảo các TCTD nằm trong khả năng kiểm soát, không ảnh hưởng thanh khoản thị trường, từ đó duy trì mặt bằng lãi suất ổn định. Trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới tăng lãi suất liên tục trong năm 2021 và 6 tháng đầu năm 2022, từ đầu năm đến nay lãi suất cho vay tăng rất nhẹ, chỉ 0,09% là nỗ lực rất lớn của NHNN, của hệ thống TCTD đã đồng hành cùng nền kinh tế để duy trì mức lãi suất cho vay hợp lý, không gây gánh nặng cho doanh nghiệp và người dân, cố gắng vượt qua cuộc khủng hoảng Covid-19 thời gian tới.

Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ sẽ phối hợp với chính sách tài khóa nhằm thực hiện thành công chương trình hỗ trợ lãi suất trị giá 40.000 tỷ đồng trong 2 năm 2022-2023. Tuy nhiên một chuyên gia tài chính - ngân hàng cũng chia sẻ, kỳ vọng lãi suất cho vay có thể giảm thêm thời gian tới là rất thách thức, vì trong năm 2020 NHNN đã ba lần liên tiếp hạ lãi suất điều hành và đây được ghi nhận là mức giảm lớn nhất trong khu vực ASEAN thời điểm đó.

“Giữ lãi suất không tăng mạnh theo tôi đã là thành công rồi, khi lãi suất đầu vào và các nước trên thế giới đều tăng lãi suất. Chênh lệch lãi suất ròng sẽ giảm đi so với những năm trước, nên ngân hàng sẽ phải tính toán để có thể đa dạng hoá nguồn thu của mình. Đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số”, chuyên gia nêu quan điểm.

Khuê Nguyễn

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.390 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.110 23.390 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.090 23.390 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.080 23.380 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.140 23.350 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.130 23.350 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.100 23.625 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.106 23.392 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.105 23.390 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.160 23.430 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.950
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.950
68.750
Vàng SJC 5c
67.950
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.950
54.900
Vàng nữ trang 9999
53.800
54.500