Tăng thu dịch vụ: Bứt phá mạnh trong thời số hóa

10:11 | 07/04/2021

Báo cáo tài chính của các ngân hàng được công bố trong thời gian gần đây đều cho thấy thu từ hoạt động dịch vụ ngoài lãi đang có sự bứt phá mạnh mẽ và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu của các ngân hàng. Điều đó cho thấy, các ngân hàng không còn “độc canh” tín dụng mà đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng.

Đơn cử HDBank vừa công bố báo cáo kiểm toán năm 2020 cho thấy lãi thuần từ hoạt động dịch vụ tăng gấp rưỡi so với năm năm 2019. Tuy nhiên ngân hàng không nêu rõ giá trị tuyệt đối các khoản thu từ dịch vụ, chỉ thông báo các mảng thu nhập đóng góp vào lợi nhuận như: dịch vụ thanh toán, ngân quỹ... Trong năm qua, ngân hàng này thực hiện chuyển đổi số các nghiệp vụ ngân hàng để tiếp cận khách hàng qua internet. Đáng kể nhất là dự án số hóa sản phẩm “Di HDBank”, trong đó triển khai xác thực thông tin khách hàng trực tuyến (eKYC), ngoài ra đây cũng là một trong những ngân hàng đầu tiên thực hiện phát hành, cung cấp dịch vụ thanh toán, bảo lãnh tín dụng thư (L/C) trên nền tảng công nghệ blockchain.

tang thu dich vu but pha manh trong thoi so hoa

Báo cáo tài chính năm 2020 của VIB có đoạn, việc phát triển chất lượng dịch vụ, ngân hàng giao dịch và ngân hàng số trong những năm gần đây, các hoạt động phi tín dụng của ngân hàng tăng trưởng mạnh mẽ. Đặc biệt là tiền gửi không kỳ hạn, thẻ tín dụng và bảo hiểm liên kết ngân hàng. Theo đó, thu nhập ngoài lãi tín dụng chiếm khoảng 24% tổng thu nhập và tăng 41% so với năm 2019. Ngoài sự vượt trội về ngân hàng số là các mô hình dịch vụ trả lương, các gói miễn phí và ưu đãi phí hấp dẫn và đặc biệt là trải nghiệm khách hàng vượt trội ở tất cả các điểm chạm với khách hàng, từ chi nhánh, call center đến online.

Vietcombank là ngân hàng có nhiều thế mạnh phát triển dịch vụ nhờ nền tảng cộng nghệ hiện đại và hội tụ được nhóm khách hàng xuất nhập khẩu. Ông Nghiêm Xuân Thành - Chủ tịch HĐQT Vietcombank cho biết, mảng dịch vụ của ngân hàng tăng nhanh trong thời gian qua và đang chiếm tỷ trọng 26% trong tổng thu nhập của ngân hàng.

Bên cạnh hoạt động dịch vụ, các mảng kinh doanh phi tín dụng khác của các ngân hàng cũng duy trì được tốc độ tăng trưởng khá. Chẳng hạn các khoản thu nhập từ dịch vụ, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán của VPBank năm 2020 tăng 21%, tỷ lệ này năm trước đó là 19%. MSB công bố năm 2020 tổng thu nhập ngoài lãi tăng 42%, trong đó thu thuần về dịch vụ là 50%, thu phí bảo hiểm liên kết qua ngân hàng thuộc diện cao nhất so với các ngân hàng đồng hạng. Agribank đang chọn hai thị trường Hà Nội và TP.HCM để phân phối sản phẩm bán lẻ để tăng thu mảng dịch vụ ngân hàng…

Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 986/QĐ-TTg, trong đó có xác định mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2025 tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các ngân hàng lên 16-17%.

Theo các quy định hiện hành, những hoạt động kinh doanh không được tính vào cho vay thì được coi là mảng dịch vụ nên các ngân hàng báo cáo trước cổ đông thu nhập từ mảng dịch vụ bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau. Trên thực tế, một ngân hàng có tỷ trọng thu từ mảng dịch vụ càng lớn, càng đảm bảo an toàn tài chính hơn là ngân hàng lệ thuộc vào tín dụng.

Tuy nhiên, Việt Nam chưa có thị trường vốn phát triển nên nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế hiện nay vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Vì vậy, hoạt động cho vay của các ngân hàng sẽ mở đường cho các dịch vụ mở rộng và phát triển. Cá nhân hoặc doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thanh toán nợ gốc và lãi định kỳ phải sử dụng dịch vụ ngân hàng. Các nhà xuất khẩu vay ngoại tệ làm hàng xuất khẩu cam kết bán lại ngoại tệ cho ngân hàng cũng sử dụng dịch vụ và trả phí cho ngân hàng và sử dụng các dịch vụ khép kín như thanh toán xuất nhập khẩu, thu hộ, chi trả tiền lương cho người lao động trong doanh nghiệp…

Trong xu hướng số hóa, các ngân hàng điện tử đang phát triển đã mở ra cơ hội cho các ngân hàng tăng thu từ dịch vụ thanh toán điện tử, nhất là trong năm qua có những thời điểm thực hiện lệnh giãn cách xã hội của Chính phủ nhiều người dân đã tăng cường sử dụng các sản phẩm thanh toán điện tử internet banking, mobile banking… Tuy nhiên, theo các lãnh đạo ngân hàng thu nhập từ hoạt động này hiện mới chỉ ở giai đoạn đầu, khách hàng sử dụng các kênh chuyển tiền, thanh toán điện tử mua sắm thương mại điện tử các món có giá trị nhỏ lẻ.

Theo một lãnh đạo NHNN, mảng kinh doanh dịch vụ của các ngân hàng thời gian qua có phát triển, nhưng vẫn chưa được như kỳ vọng và dư địa để các ngân hàng phát triển mảng kinh doanh này vẫn còn rất lớn, nhất là với những ngân hàng nhỏ vốn đang phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng. Tuy nhiên, để có thể phát triển mảng kinh doanh này, đòi hỏi các ngân hàng cần nâng cao năng lực quản trị, trình độ công nghệ; đặc biệt cần đẩy nhanh tiến trình số hóa hoạt động. Bởi theo các chuyên gia, “số hóa” là chìa khóa để các ngân hàng phát triển thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại trên nền tảng số.

Minh Phương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.964 23.174 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.974 23.186 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.970 23.170 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.900
55.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.900
55.300
Vàng SJC 5c
54.900
55.320
Vàng nhẫn 9999
50.850
51.450
Vàng nữ trang 9999
50.450
51.150