Tăng thuế xuất khẩu dăm gỗ - cần cân nhắc cẩn trọng

12:00 | 26/06/2019

Tại thời điểm này, quan điểm của Bộ NN&PTNT là chưa nên xem xét tăng thuế XK dăm gỗ.

Đề xuất tăng thuế

Chúng ta đang cân nhắc khả năng tăng thuế xuất khẩu (XK) dăm gỗ ở mức 2% hiện tại lên 5%. Nếu như thế, mỗi năm ngân sách sẽ tăng lên gần 900 tỷ đồng. Tuy nhiên vẫn còn nhiều lo ngại quanh đề xuất.

Ông Tô Xuân Phúc – chuyên gia nghiên cứu, phân tích chính sách lâm nghiệp tại Việt Nam của Tổ chức Forest Trends cho biết, ngành chế biến và XK dăm gỗ của Việt Nam tiếp tục xu hướng mở rộng kể từ năm 2001. Đến nay, Việt Nam đã trở thành nước XK dăm gỗ lớn nhất trên thế giới.

Đề xuất tăng thuế xuất khẩu dăm gỗ ở mức 2% hiện tại lên 5% 

Năm 2009, Việt Nam có 47 nhà máy dăm với lượng dăm XK đạt khoảng 2,3 triệu tấn khô. Đến 2014, con số này tăng lên 130 nhà máy với lượng dăm XK đạt 7 triệu tấn khô. Năm 2018, con số XK đã đạt kỷ lục gần 10,4 triệu tấn khô. Kim ngạch XK cũng tăng từ 796 triệu USD năm 2012 lên đến 958 triệu USD năm 2014 và 1,34 tỷ USD năm 2018.

Vì vậy, ông Phúc cho hay, những động thái rục rịch tăng thuế XK dăm đã tác động trực tiếp lên XK, với lượng dăm XK những tháng đầu năm 2019 tăng đột biến. Trong 4 tháng đầu năm, Việt Nam XK 4 triệu tấn dăm, tương đương với 0,56 tỷ USD về kim ngạch. Lượng xuất tăng nhanh cho thấy động thái “né thuế XK” của doanh nghiệp, trước khi mức thuế mới được áp dụng.

Nhiều ý kiến cho rằng, dăm gỗ rất quan trọng với các hộ trồng rừng, bởi sản xuất dăm hiện phù hợp nhất với điều kiện kinh tế, xã hội của các hộ này.

Đại diện CTCP Lâm sản PISICO Quảng Nam đánh giá, với việc tăng thuế XK dăm gỗ, người trồng rừng sẽ phải chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Nếu tăng thuế, giá thu mua nguyên liệu sẽ giảm, người trồng rừng sẽ là người phải gánh chịu.

Có nên tăng thuế?

Đến nay, vẫn chưa có bất cứ đánh giá nào về vai trò của thuế XK dăm đối với việc chuyển dịch nguồn nguyên liệu và dịch chuyển trong sản xuất cũng như XK gỗ và các sản phẩm gỗ. Điều này có nghĩa rằng trước khi quyết định thay đổi mức thuế hiện nay, cần có những đánh giá khách quan về hiệu quả và tác động của thuế đến dịch chuyển trong các khâu theo kỳ vọng. Đánh giá cũng cần quan tâm đến khía cạnh tác động của thuế đối với sinh kế của các hộ trồng rừng.

Tại thời điểm này, quan điểm của Bộ NN&PTNT là chưa nên xem xét tăng thuế XK dăm gỗ.

Ở một góc độ khác, ông Điền Quang Hiệp - Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương cho hay, rất đồng cảm với đề xuất tăng thuế XK dăm gỗ, cần có hàng rào thuế quan để bảo vệ nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ.

Hơn nữa, trong những năm qua, nguồn dăm nguyên liệu sử dụng trong nước bằng gỗ tràm, cao-su lên tới 80% là một tỷ lệ khá cao. Vì vậy, đề xuất tăng thuế dăm gỗ là dễ hiểu. Tuy nhiên, ông Hiệp cho rằng, điều cần làm hơn cả là cải tiến giống gỗ để cung cấp nguồn nguyên liệu tốt hơn, giá trị gia tăng cao hơn.

Theo ông Tô Xuân Phúc, đến nay, vẫn chưa có bất cứ đánh giá nào về vai trò của thuế XK dăm đối với việc chuyển dịch nguồn nguyên liệu và dịch chuyển trong sản xuất cũng như XK gỗ và các sản phẩm gỗ. Điều này có nghĩa rằng trước khi quyết định thay đổi mức thuế hiện nay, cần có những đánh giá khách quan về hiệu quả và tác động của thuế đến dịch chuyển trong các khâu theo kỳ vọng. Đánh giá cũng cần quan tâm đến khía cạnh tác động của thuế đối với sinh kế của các hộ trồng rừng.

Chính phủ cần đưa ra các cơ chế đảm bảo việc tăng hoặc giảm thuế XK không tạo ra tác động tiêu cực tới nguồn thu của các hộ trồng rừng. Nguồn thu của hộ trên một đơn vị sản phẩm sau khi áp thuế ít nhất phải bằng với nguồn thu của hộ trên cùng đơn vị sản phẩm trước áp thuế.

Không đạt được mục tiêu cốt lõi này sẽ làm giảm giá trị của chính sách thuế, hoặc thậm chí phản tác dụng đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo, ông Phúc cho biết thêm.

Hiện nay, Bộ Tài chính đang trong quá trình tổng hợp các ý kiến tham gia về việc sửa đổi thuế xuất khẩu của mặt hàng dăm gỗ.

Hồng Hạnh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.170 23.380 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.205 23.385 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.184 23.374 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.215 23.365 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.200 23.360 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.180 23.350 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.190 23.400 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.190 23.390 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.200 23.370 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.230 23.360 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.380
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.380
48.750
Vàng SJC 5c
48.380
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.730
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050