Tăng trưởng không đi kèm với hạ chuẩn tín dụng

10:40 | 01/07/2013

Theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, đây là lúc các ngân hàng phát huy khả năng phân tích, dự báo thị trường để đưa ra các quyết định tín dụng phù hợp. Tuy nhiên, Phó Thống đốc cũng nhấn mạnh, việc mở rộng tín dụng hoàn toàn không đi cùng với việc giảm các tiêu chuẩn, điều kiện tín dụng.

“Ước tính đến cuối tháng 6, tổng dư nợ tín dụng của các TCTD Hà Nội đạt 663.908 tỷ đồng, tăng 8,52% so với cùng kỳ và tăng 1,68% so với đầu năm, với cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh”, Giám đốc NHNN Hà Nội Nguyễn Thị Mai Sương cho biết.

Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú phát biểu chỉ đạo Hội nghị

Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn, DN giải thể ngừng hoạt động nhiều, nên đến 31/5/2013, nợ xấu của các TCTD trên địa bàn chiếm 6,58% so với tổng dư nợ, tăng 1,54% so với cuối năm 2012. Hoạt động tái cơ cấu đã và đang được triển khai có hiệu quả trong khi công tác thanh tra giám sát được tăng cường góp phần ổn định và nâng cao chất lượng quản trị, điều hành của các TCTD…

Báo cáo hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm của NHNN Hà Nội cũng chỉ ra nhiều tồn tại, trong đó nổi lên là tốc độ tăng trưởng tín dụng (TTTD) chậm, chưa tương ứng với tăng trưởng huy động vốn. Nguồn vốn huy động chủ yếu là kỳ hạn ngắn, dẫn đến khó khăn trong việc quản trị nguồn vốn của các TCTD và tiềm ẩn nguy cơ rủi ro kỳ hạn.

Trên cơ sở bám sát chủ trương, nghị quyết của Chính phủ và chỉ đạo của NHNN, Thành ủy và UBND TP. Hà Nội, NHNN Hà Nội đã xác định 9 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong điều hành các TCTD trên địa bàn để góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến việc chỉ đạo các TCTD chủ động xác định các mức lãi suất huy động và cho vay phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, điều kiện của thị trường tiền tệ; triển khai các giải pháp để TTTD, phấn đấu đảm bảo tốc độ TTTD năm 2013 theo định hướng đề ra của NHNN. Đồng thời, tập trung triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu, rà soát đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi các khoản nợ, tiếp tục cơ cấu lại nợ theo Quyết định 780/QĐ – NHNN và công văn 2056 của NHNN.

Đại diện các TCTD tham gia Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng Hà Nội 6 tháng cuối năm mặc dù bày tỏ nhất trí cao với các nhiệm vụ, giải pháp đề ra nhưng cũng có nhiều băn khoăn được đưa ra.

Cụ thể như về vấn đề TTTD, ông Nguyễn Đức Vinh – Tổng giám đốc VPBank cho biết, với thanh khoản dư giả hiện nay, các ngân hàng rất muốn đẩy vốn ra thị trường. Nhưng vấn đề là “đẩy đi đâu” trong bối cảnh  kinh tế khó khăn hiện nay? “DN yếu, sức mua kém thì liệu có làm được điều này không, hay phải hạ thấp các tiêu chuẩn tín dụng để lại gánh chịu rủi ro nợ xấu trong tương lai?”, vị này đặt câu hỏi mà không quên nhấn mạnh thêm: Trong tất cả các văn bản của NHNN đều khẳng định không hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng.

Câu hỏi này không phải không có lý và được nhiều đại biểu khác đồng tình. Bởi trước đây các DN vẫn kêu lãi suất cao nhưng với các mức lãi suất cho vay giảm mạnh như vừa qua thì đây rõ ràng không còn là vấn đề đối với các DN nữa. “Điều đó cho thấy lãi suất cao không phải là nguyên nhân mà cốt lõi là sức hấp thụ của nền kinh tế”, bà Phan Thị Chinh - Phó Tổng giám đốc BIDV khẳng định.


Đầu ra gặp khó khăn do tổng cầu suy giảm khiến DN "ngại" vay vốn

Phát biểu chỉ đạo và kết luận Hội nghị, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho rằng, để hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ được giao, NHNN Hà Nội cũng như các TCTD trên địa bàn dù đã đạt được những thành quả nhất định trong thời gian qua nhưng còn rất nhiều việc phải làm trong khoảng thời gian 6 tháng tới.

Trong đó, trước mắt Phó Thống đốc yêu cầu các TCTD trên địa bàn cần thực hiện một cách tốt nhất các biểu lãi suất mà NHNN vừa ban hành. Vấn đề huy động, đặc biệt từ trên 6 tháng thì các ngân hàng cần có các tính toán cho hợp lý, tránh tạo ra những đột biến trên thị trường.

Liên quan đến vấn đề TTTD, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho rằng, việc TTTD của Hà Nội thấp so với cả nước là vấn đề phải suy nghĩ. Tuy nhiên, việc mở rộng tín dụng vào đâu, bằng cách nào thì các ngân hàng cần tính toán trên cơ sở phù hợp với định hướng của NHNN và điều kiện, khả năng của từng ngân hàng. Theo Phó Thống đốc, đây là lúc các ngân hàng phát huy khả năng phân tích, dự báo thị trường để đưa ra các quyết định tín dụng phù hợp. Tuy nhiên, Phó Thống đốc cũng nhấn mạnh, việc mở rộng tín dụng hoàn toàn không đi cùng với việc giảm các tiêu chuẩn, điều kiện tín dụng.

Đỗ Lê

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850