Dự toán ngân sách nhà nước 2022:

Thận trọng và ưu tiên chính sách an sinh xã hội

13:31 | 05/11/2021

Ngày 5/11, Liên minh Minh bạch ngân sách (BTAP) phối hợp với Trung tâm Phát triển và hội nhập (CDI) và Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chiến lược Việt Nam (VESS) tổ chức tọa đàm “Dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2022 - Khả năng đáp ứng mục tiêu về an sinh xã hội”.

than trong va uu tien chinh sach an sinh xa hoi
Dự toán ngân sách nhà nước 2022: Thận trọng và ưu tiên chính sách an sinh xã hội

Phản ánh được tinh thần đồng hành, chia sẻ

Các đại biểu tham gia tọa đàm đều đánh giá, năm 2021, đợt dịch COVID-19 bùng phát lần thứ 4 đã tác động nghiêm trọng đến mọi hoạt động của nền kinh tế và đời sống nhân dân. Tình trạng đứt gãy một số chuỗi sản xuất, cung ứng đã ảnh hưởng đáng kể tới việc thực thi các nhiệm vụ thu - chi ngân sách trong năm. Vì vậy, các giải pháp huy động và sử dụng NSNN để đạt được các mục tiêu về an sinh xã hội năm 2022 nhằm hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi COVID-19 là điều rất cần thiết.

Phát biểu tại diễn đàn, ông Nguyễn Minh Tân, Phó Vụ trưởng Vụ Ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính cho biết, dự toán thu NSNN năm 2022 được xây dựng trên cơ sở dự kiến tăng trưởng kinh tế 6 - 6,5% so với năm 2021, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; giá dầu thô 60 USD/thùng; tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu khoảng 5,2%.

Về thu NSNN, dự toán thu NSNN năm 2022 đã thận trọng hơn khi dự báo tổng thu cân đối NSNN 2022 là 1.411,7 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 3,4% so với ước thực hiện năm 2021. Các khoản thu chính được dự toán với sự thận trọng khi thu từ sử dụng đất giảm 4% so với cùng kỳ, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu chỉ tăng 5,1% so với số ước thực hiện 2021 và số thu từ dầu thô giảm đi. Trong trường hợp dự kiến thu NSNN không tăng thu như kế hoạch hoặc nhu cầu chi tăng mạnh thì cần có kịch bản và biện pháp để xử lý.

Riêng với chi NSNN được yêu cầu triệt để tiết kiệm gắn với tinh gọn bộ máy, nâng cao tự chủ đơn vị sự nghiệp công phù hợp với tình hình thực tế và đặc thù từng lĩnh vực, cắt giảm các khoản chi chưa cấp bách để tập trung tối đa nguồn lực cho phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Bên cạnh đó, bố trí ưu tiên cho các nhiệm vụ cần thiết, chi an sinh xã hội, cải thiện đời sống cho các đối tượng hưởng trợ cấp ưu đãi người có công, đối tượng có lương hưu thấp; bố trí chi các chương trình mục tiêu quốc gia phù hợp với khả năng giải ngân và cân đối ngân sách nhà nước.

Nhìn chung bản dự thảo NSNN 2022 đã phản ánh được tinh thần chia sẻ hành động và huy động nguồn lực đương đầu với khó khăn trong đại dịch hiện nay. Tuy nhiên, ngân sách cần được cụ thể hóa hơn, minh bạch hơn trong việc nêu bật nguồn ngân sách sẽ được sử dụng như thế nào, chấp hành ra sao, nhằm hướng tới những đối tượng khó khăn nhất. Cụ thể ở đây là người lao động di cư tại các đô thị chịu ảnh hưởng dịch nặng nề khiến họ phải mất việc hoặc ngừng việc và trở về quê quán. TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược (VESS) phân tích.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Quang Thương, Quyền Giám đốc điều hành Trung tâm Phát triển và Hội nhập cho rằng, Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người lao động chịu ảnh hưởng của COVID-19 qua các chính sách như Nghị quyết 68/NQ-CP, Nghị quyết 116/NQ-CP…Tuy nhiên, mức hỗ trợ cao nhất vẫn thấp hơn mức lương tối thiểu vùng, chưa kể hỗ trợ của Chính phủ là 1 lần trong khi mỗi đợt dịch COVID-19 bùng phát kéo dài ít nhất là 2 tháng.

Hỗ trợ cần đáp ứng mức sống tối thiểu

Cùng chung nhận định này, Ths. Phạm Minh Thu, Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cho rằng, việc hỗ trợ hiện nay đối với người dân và người lao động đang ở mức thấp không đáp ứng mức sống tối thiểu và dự báo chưa đầy đủ mức độ tác động của đại dịch COVID-19 đến đời sống người lao động.

Mức hỗ trợ một lần cho lao động tự do không đáp ứng mức sống tối thiểu còn mức hỗ trợ lao động có hợp đồng lao động trong một số trường hợp không bằng tiền lương tối thiểu quy định của Nhà nước. Quy định “một đối tượng chỉ hưởng một lần trong một chính sách hỗ trợ” trong khi phạm vi chính sách kéo dài hết năm 2021 cho thấy chưa dự báo hết tình hình tác động của dịch COVID-19 đến đời sống người dân, người lao động, Ths. Phạm Minh Thu nói.

Đánh giá bản dự thu NSNN năm 2022 dưới góc nhìn vĩ mô, PGS.TS Vũ Sỹ Cường - Phó Trưởng Bộ môn Phân tích chính sách tài chính (Khoa Tài chính Công - Học viện Tài chính) nhận định, dự thảo không chi tiết về chi đầu tư như chi thường xuyên vì vậy rất khó đánh giá liệu NSNN có đủ đảm bảo 20% cho giáo dục, 2% cho khoa học công nghệ, 1% cho môi trường như yêu cầu của quy định hiện hành.

Cần có sự nhất quán trong các chỉ tiêu dự toán NSNN qua các năm, nếu có thay đổi cần phải được giải thích đầy đủ. Đồng thời, rất cần có phân tích đánh giá kỹ hơn về chi NSNN 2022, nhất là chi hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua đại dịch.

Để thực hiện mục tiêu an sinh xã hội trong thời gian tới, bà Nguyễn Thu Hương, Quản lý cao cấp chương trình Quản trị tốt, tổ chức Oxfam tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam nên quy định mức phân bổ ngân sách tối thiểu cho an sinh xã hội (có thể từ 6-10% GDP) và tăng chi từ ngân sách nhà nước cho chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, để người lao động tự do có đầy đủ các quyền lợi tương tự như bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Bên cạnh các chính sách hỗ trợ, một số chuyên gia cho rằng người dân đang cần các chương trình trợ cấp tiền mặt. Ths. Phạm Minh Thu đề xuất, cần tăng cường chương trình trợ cấp tiền mặt với ngân sách đủ lớn, thực hiện càng sớm càng tốt và tiếp cận theo cách phổ cập nhóm như hộ có trẻ em, hộ có người già, người khuyết tật... Mức hỗ trợ tiền mặt phải đạt “mức sống tối thiểu” và thời gian hỗ trợ tiền mặt tương ứng với thời gian cách ly, giãn cách cộng đồng. Chi đảm bảo an sinh xã hội cần được coi là khoản chi đầu tư phát triển, hoặc đưa vào chính sách thường xuyên hơn là sử dụng Quỹ Dự phòng.

Hương Giang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.470 22.780 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.500 22.780 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.500 22.800 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.500 22.760 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.530 22.740 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.530 22.730 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.495 22.900 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.520 22.800 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.530 22.730 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.550 22.730 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.850
62.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.850
62.570
Vàng SJC 5c
61.850
62.570
Vàng nhẫn 9999
52.800
53.500
Vàng nữ trang 9999
52.500
53.200