Chỉ số kinh tế:
Ngày 27/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.633 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.396/26.858 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

Thể chế tạo nguồn lực phát triển kinh tế biển bền vững

Hương Giang
Hương Giang  - 
Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhận thức về vị trí, vai trò của biển đang được nâng lên. Hệ thống thể chế, chính sách từng bước đã được hoàn thiện; Nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá; Kết cấu hạ tầng ven biển được tăng cường; Đời sống của người dân vùng biển được cải thiện; Quốc phòng, an ninh đối ngoại, bảo vệ chủ quyền biển đảo đạt được nhiều kết quả quan trọng.
aa
Nền tảng mới cho phát triển kinh tế biển bền vững Tái định hình phát triển kinh tế biển Hội nghị tổng kết Nghị quyết 36-NQ/TW về chiến lược phát triển kinh tế biển - Khu vực phía Bắc

Không gian biển mở ra cơ hội lớn

Nhờ đó, kinh tế biển hiện đóng góp khoảng 50% GRDP cả nước, nhiều địa phương ven biển nằm trong nhóm dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người. Trong đó, ngành dầu khí tiếp tục đóng góp hơn 8% tổng thu ngân sách nhà nước. Lĩnh vực hàng hải - logistics phát triển nhanh với 320 bến cảng, tổng chiều dài cầu cảng 102 km; lượng hàng hóa thông qua cảng biển năm 2025 đạt 1,17 tỷ tấn. Đội tàu biển Việt Nam đứng thứ 10 thế giới về vận tải hàng hóa, với 1.434 tàu với tổng trọng tải khoảng 9,4 triệu DWT.

Không dừng lại ở đó, cấu trúc kinh tế biển đang thay đổi nhanh chóng. Nếu trước đây biển chủ yếu gắn với khai thác dầu khí và đánh bắt hải sản thì nay, các ngành kinh tế biển mới nổi đang mở ra dư địa phát triển rất lớn. Đáng chú ý, năng lượng tái tạo ngoài khơi đang được xem là “mỏ vàng xanh” của tương lai. Việt Nam có nhiều vùng biển có điều kiện thuận lợi để phát triển điện gió ngoài khơi, điện sóng và các ngành công nghiệp biển mới. Không gian biển cũng mở ra cơ hội lớn cho logistics biển, đô thị ven biển, trung tâm thương mại tự do và các công trình kinh tế trên biển. Đây sẽ là động lực tăng trưởng mới khi dư địa phát triển trên đất liền ngày càng thu hẹp.

Song, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Đặng Ngọc Điệp nhìn nhận, mặc dù nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển, kết quả hiện nay vẫn chưa như kỳ vọng. Kinh tế biển vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước.

Theo Báo cáo tổng kết triển khai Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng nhận định, nhiều “điểm nghẽn” hiện nay nằm ở khoảng trống thể chế. Đó là việc chưa xác lập đầy đủ cơ chế thúc đẩy kinh tế biển xanh; thiếu chính sách ưu đãi cho các ngành kinh tế biển mới; thiếu công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để phân bổ hiệu quả nguồn lực phát triển biển. Thủ tục hành chính liên quan đến các dự án biển còn phân tán và chồng chéo. Từ đó làm gia tăng chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp; kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư và giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư biển. Ngoài ra, các lĩnh vực khoa học công nghệ biển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu biển vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò là động lực cho tăng trưởng.

Thể chế tạo nguồn lực phát triển kinh tế biển bền vững
Hoàn thiện pháp lý, nhanh chóng tháo gỡ rào cản để phát triển kinh tế biển bền vững

Làm rõ hình hài một quốc gia biển mạnh

Bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao hơn từ kinh tế biển đòi hỏi phải tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển. Trước yêu cầu mới của thực tiễn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, phải khẩn trương xây dựng nghị quyết mới về kinh tế biển, trọng tâm là phải chuyển mạnh từ tư duy sang không gian phát triển biển quốc gia. Nghị quyết mới phải trả lời được câu hỏi lớn, Việt Nam sẽ khai thác và quản trị, phát huy toàn bộ không gian biển quốc gia thế nào để phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước trong nhiều thập niên tới. Đồng thời cũng phải làm rõ hình hài của một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI, xác định rõ biển sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, năm 2045 và những năm tiếp theo.

PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam phân tích, tư duy không gian biển chính là cách tiếp cận quản lý biển theo không gian dựa vào hệ sinh thái; sử dụng các công cụ thích hợp (quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng biển) để xử lý các xung đột lợi ích ngay từ giai đoạn sớm của quá trình phát triển kinh tế biển; tối ưu hóa lợi ích của các bên liên quan theo lộ trình, bao gồm bảo đảm lợi ích giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng, cũng như tính bền vững của các hệ thống không gian biển. Trên cơ sở đó, việc tổ chức lại không gian kinh tế biển sẽ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế biển nhanh và bền vững dựa vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Những nước đi chiến lược đầu tiên của tư duy mới cũng đang chuẩn bị. Ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết, Dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo sẽ sớm được Quốc hội cho ý kiến và thông qua. Trong đó, vấn đề trọng tâm là thể chế hóa hơn các quan điểm phát triển kinh tế biển xanh, bảo đảm phát triển trong giới hạn và lấy hệ sinh thái làm nền tảng; thúc đẩy chuyển đổi từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành và dựa trên hệ sinh thái, nhằm giải quyết hiệu quả các xung đột, chồng chéo lợi ích trong khai thác, sử dụng không gian biển và tài nguyên biển. Một yêu cầu khác là hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành trong quản lý và phát triển kinh tế biển, khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các lĩnh vực như hàng hải, du lịch, dầu khí và các ngành kinh tế biển khác; Việc phân cấp cho địa phương phải gắn với năng lực thực thi và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Để đạt được mục tiêu trở thành một “Quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI”, cùng với hoàn thiện thể chế, chính sách, việc tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ biển và chuyển đổi số, AI trong phát triển và quản trị không gian biển sẽ giúp Việt Nam đột phá. Biển mang lại hiệu quả kinh tế lớn, lâu dài, nhưng đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, thường vấp rủi ro thiên tai cao; các ngành kinh tế biển, nhất là “kinh tế biển sâu, biển xa” phải đi theo lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; quốc phòng, an ninh biển phải hiện đại, đủ sức kiểm soát được vùng trời, không gian mặt biển và không gian ngầm dưới đáy biển… PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi gợi ý.

Hương Giang

Tin liên quan

Tin khác

TP. Hồ Chí Minh kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp thế hệ mới

TP. Hồ Chí Minh kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp thế hệ mới

TP. Hồ Chí Minh đang hướng tới mô hình thành phố công nghiệp thế hệ mới, trong đó đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và liên kết các nguồn lực được xác định là nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh, thay vì chỉ dựa vào mở rộng quỹ đất và đầu tư hạ tầng.
Vì sao chuyển đổi số vẫn chưa tạo đủ giá trị?

Vì sao chuyển đổi số vẫn chưa tạo đủ giá trị?

Dữ liệu đang được xây dựng ở nhiều địa phương, nhưng kết nối và khai thác còn hạn chế, khiến nguồn lực đầu tư chưa chuyển hóa thành giá trị.
Chuyển hóa sáng kiến thành dự án đầu tư hiệu quả

Chuyển hóa sáng kiến thành dự án đầu tư hiệu quả

Thông qua nỗ lực khôi phục các hệ sinh thái, thế giới đang hướng tới thu hồi 380 triệu tấn CO2 và thu về 11,8 tỷ USD tài chính carbon vào năm 2040. Trong đó, các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng, các hệ sinh thái ven biển từ carbon xanh dương có tốc độ hấp thụ CO2 nhanh hơn gấp nhiều lần các khu rừng nhiệt đới, với khả năng lưu trữ lớn hơn và lâu hơn. Không chỉ là bể chứa carbon khổng lồ, các hệ sinh thái này còn là lá chắn xanh bảo vệ bờ biển, giảm thiểu tác động của sóng lớn, triều cường và xói lở do biến đổi khí hậu.
Cắt giảm điều kiện kinh doanh, tạo thuận lợi cho việc đăng ký, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

Cắt giảm điều kiện kinh doanh, tạo thuận lợi cho việc đăng ký, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

Nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ đối với tổ chức và cá nhân, chỉ quy định nghĩa vụ thông báo của tổ chức, cá nhân giám định khi hoạt động cung cấp dịch vụ và dự kiến quy định tại văn bản dưới luật quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện hoạt động này.
Đổi mới sáng tạo: Từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường

Đổi mới sáng tạo: Từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường

Khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn đối với hoạt động đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Việc tăng cường liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp được xác định là giải pháp quan trọng nhằm đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy thương mại hóa công nghệ.
TP. Hồ Chí Minh mở rộng kết nối quốc tế, tạo cơ hội tăng trưởng xanh cho doanh nghiệp

TP. Hồ Chí Minh mở rộng kết nối quốc tế, tạo cơ hội tăng trưởng xanh cho doanh nghiệp

Hội nghị Bàn tròn các thành phố Đối tác Kinh tế (BPC) năm 2026 mở ra cơ hội kết nối công nghệ, nguồn vốn và thị trường, thúc đẩy hợp tác quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thúc đẩy TMĐT và thanh toán số: Động lực tăng trưởng kinh tế Đà Nẵng

Thúc đẩy TMĐT và thanh toán số: Động lực tăng trưởng kinh tế Đà Nẵng

Thương mại điện tử (TMĐT) có thể góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số thông qua mở rộng thị trường, nâng năng suất và phát triển dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, tăng doanh số trực tuyến không đồng nghĩa với tăng tương ứng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP).
Đà Nẵng kiến tạo tương lai từ kinh tế tuần hoàn

Đà Nẵng kiến tạo tương lai từ kinh tế tuần hoàn

Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường, Đà Nẵng đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành thành phố tuần hoàn vào năm 2045.
Quảng Trị thu hút dòng vốn cho tăng trưởng xanh

Quảng Trị thu hút dòng vốn cho tăng trưởng xanh

Với lợi thế về nắng, gió và vị trí kết nối trên Hành lang kinh tế Đông - Tây, Quảng Trị đang từng bước khẳng định tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo.
Ngành cơ khí, điện tìm động lực tăng trưởng từ chuyển đổi số

Ngành cơ khí, điện tìm động lực tăng trưởng từ chuyển đổi số

Trong bối cảnh xuất khẩu nhóm hàng điện tử, máy móc và thiết bị tiếp tục tăng trưởng mạnh, ngành cơ khí, điện TP. Hồ Chí Minh đứng trước cơ hội mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, doanh nghiệp cần đẩy nhanh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực sản xuất trong nước.