Thêm nhiều cơ hội tiếp cận việc làm thỏa đáng

08:08 | 18/01/2022

Dự kiến Chương trình Hợp tác quốc gia về việc làm bền vững và thỏa đáng giai đoạn 2022 - 2026 sẽ được thẩm định, phê duyệt và triển khai vào cuối quý I hoặc đầu quý II/2022.

Chương trình Hợp tác quốc gia về việc làm bền vững và thỏa đáng (DWCP) tại Việt Nam giai đoạn 2017 - 2021 là khung khổ hợp tác lần thứ ba giữa Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và các đối tác ba bên (Chính phủ, các tổ chức của người sử dụng lao động và người lao động) nhằm giải quyết những thách thức về việc làm thỏa đáng tại Việt Nam.

Theo đó, DWCP đã đặt ra ba ưu tiên quốc gia là thúc đẩy việc làm bền vững và thỏa đáng, tạo môi trường thuận lợi cho các cơ hội kinh doanh bền vững; giảm đói nghèo thông qua việc mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội tới tất cả mọi người và giảm các hình thức việc làm không thể chấp nhận được, đặc biệt cho đối tượng dễ bị tổn thương nhất; và xây dựng cơ chế quản trị thị trường lao động hiệu quả tuân thủ những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động.

Đến nay, DWCP giai đoạn 2017 - 2021 đã kết thúc với những thành tựu nổi bật như: cải tiến trong các chính sách và quy định về việc làm, mở rộng phạm vi bao phủ an sinh xã hội, củng cố các hệ thống quan hệ lao động và tăng cường khung pháp lý về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp.

them nhieu co hoi tiep can viec lam thoa dang
Ảnh minh họa

Ông Nilim Baruah, đại diện lâm thời ILO tại Việt Nam cho biết, trong 5 năm qua, những thành tựu này, bao gồm cả việc Việt Nam phê chuẩn 4 Công ước của ILO cùng với những cải cách pháp luật lao động, đã mang lại cơ hội tốt hơn cho nhiều hơn phụ nữ và nam giới ở Việt Nam được tiếp cận với việc làm thỏa đáng.

Hai hội thảo tham vấn quốc gia về xây dựng DWCP giai đoạn 2022 - 2026 đã diễn ra trong tháng 12/2021 bằng cả hình thức trực tuyến và trực tiếp. Sự kiện do ILO và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) đồng tổ chức. Hội thảo ghi nhận sự tham gia tích cực của đại diện các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động, Ban Kinh tế Trung ương, các cơ quan nghiên cứu, học giả và các đối tác đến từ nhiều tỉnh thành trên cả nước. Chương trình DWCP giai đoạn 2022 - 2026 là chương trình hợp tác lần thứ tư của Việt Nam và ILO nhằm mở ra thêm nhiều cơ hội cho phụ nữ và nam giới được tiếp cận việc làm thỏa đáng và hiệu suất cao trong điều kiện tự do, bình đẳng, được đảm bảo an ninh và nhân phẩm tại Việt Nam.

Ông Nguyễn Mạnh Cường, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ LĐ-TB&XH cho biết, với sự tham gia đóng góp nhiệt tình của các đối tác ba bên để hoàn thiện dự thảo, chúng tôi dự kiến DWCP giai đoạn 2022 - 2026 sẽ được thẩm định, phê duyệt và triển khai vào cuối quý I hoặc đầu quý II/2022.

Hai hội thảo tham vấn đã tạo cơ hội cho ILO và các đối tác ba bên cùng các bên có liên quan tìm ra cách thức tốt nhất để mang lại việc làm thỏa đáng cho tất cả mọi người. Được biết, DWCP giai đoạn 2022 - 2026 được xây dựng trong bối cảnh Việt Nam trải qua thời kỳ chuyển đổi quan trọng về kinh tế và xã hội. Chính phủ đã thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2021 – 2030 và Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 2021-2025 với mục tiêu phấn đấu để Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045. Việt Nam hiện đang phải đối phó với những tác động của đại dịch Covid-19 trên tất cả các lĩnh vực của đời sống và đặc biệt là vấn đề việc làm. Liên Hợp quốc tại Việt Nam cũng đang trong quá trình thông qua một Khung hợp tác Quốc gia về phát triển bền vững mới với Chính phủ Việt Nam.

Hữu An

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400