Thị trường hàng hóa: Giá nguyên liệu giảm mạnh ngày thứ tư liên tiếp

09:26 | 27/09/2022

Theo Sở giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), thị trường hàng hóa thế giới kết thúc ngày giao dịch đầu tuần (26/9) với 27 trong tổng số 31 mặt hàng chìm trong sắc đỏ. Sức ép từ lực bán mạnh đã kéo chỉ số MXV-Index giảm sâu 1,69% xuống 2.395 điểm, nối dài đà suy yếu sang ngày thứ tư liên tiếp, ghi nhận mức điểm thấp nhất kể từ đầu tháng 1 năm nay.

Giá trị giao dịch toàn Sở cũng cho thấy sự sụt giảm, đạt mức hơn 3.200 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong đó dòng tiền đầu tư tăng mạnh hơn 30% đối với nhóm kim loại.

thi truong hang hoa gia nguyen lieu giam manh ngay thu tu lien tiep

Áp lực gia tăng đối với các mặt hàng kim loại

Kết thúc phiên giao dịch đầu tuần ngày 26/9, thiếc LME là mặt hàng duy nhất giữ được sắc xanh, trong khi giá toàn bộ các kim loại còn lại tiếp tục đỏ lửa. Đối với nhóm kim loại quý, giá bạc giảm còn 18,48 USD/oz sau khi đánh mất 2,27% giá trị trong phiên giao dịch hôm qua. Giá bạch kim cũng có phiên giảm thứ 4 liên tiếp, kết thúc tại mức giá 850 USD/oz, giảm 1%.

Hàng loạt quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục thể hiện quan điểm mạnh mẽ trong vấn đề kiểm soát lạm phát qua các bài phát biểu vào ngày hôm qua. Chủ tịch Fed Cleveland, Loretta Mester cho biết đối với nền kinh tế Mỹ hiện tại, việc quá nhẹ tay trong công cuộc hạ nhiệt lạm phát sẽ gây ra tổn thất còn lớn hơn so với chính sách mạnh tay thắt chặt tiền tệ.

Trong khi đó, Chủ tịch Fed Atlanta, ông Raphael Bostic đã nhấn mạnh về những bất ổn kinh tế tại khu vực Châu Âu và đặc biệt là Vương quốc Anh. Đồng đô la Mỹ đã tiếp tục khẳng định sức mạnh và vai trò là đồng tiền trú ẩn an toàn khi liên tục thiết lập đỉnh mới trong 2 thập kỷ. Đây là nguyên nhân chính đã tạo áp lực tới chi phí nắm giữ bạc và bạch kim và kéo giá suy yếu trong phiên.

thi truong hang hoa gia nguyen lieu giam manh ngay thu tu lien tiep

Áp lực vĩ mô tiếp tục đè nặng lên triển vọng tiêu thụ kim loại cơ bản do lo ngại về rủi ro suy thoái ngày càng gia tăng. Đồng COMEX hiện đã quay trở lại vùng giá thấp nhất kể từ cuối tháng 7 sau khi giảm 1,45% xuống còn 3,29 USD/pound.

Mặc dù nhà sản xuất đồng lớn thứ 10 trên thế giới, Anglo American đã điều chỉnh giảm hướng dẫn sản xuất đồng cho Chile xuống còn 560.000-580.000 tấn so với dự báo trước đó là 560.000-600.000 tấn trong năm nay, đồng thời cắt giảm 20.000-50.000 tấn đồng tại dự án mới Quellaveco ở Peru, song điều đó phần nào cho thấy triển vọng nhu cầu suy yếu và mức giá thấp đang cản trở động lực của các nhà khai thác.

“Lăng kính tiêu cực do bức tranh tăng trưởng chậm lại tiếp tục gây áp lực tới giá kim loại cơ bản nói chung và đồng nói riêng”, theo MXV.

Giá dầu cọ thô và bông sụt giảm mạnh

Cùng chung diễn biến của toàn thị trường, sắc đỏ áp đảo gần như hoàn toàn trên bảng giá các mặt hàng nhóm nguyên liệu liệu công nghiệp.

Dầu cọ thô dẫn dắt đà suy yếu, ghi nhận mức giảm mạnh với hơn 5%, đẩy giá mặt hàng này xuống mức thấp nhất trong hơn 15 tháng qua do những cảnh báo về việc giá có thể tiếp tục sụt giảm.

Nhờ việc thuế xuất khẩu được dỡ bỏ, Hiệp hội Dầu cọ Indonesia dự kiến xuất khẩu có thể tăng vọt vào thời điểm cuối năm nay. Điều này được dự đoán sẽ tiếp tục gây áp lực lên việc xuất khẩu cũng như giá mặt hàng này tại Malaysia, nhất là trong bối cảnh sản lượng dầu cọ trong năm nay của nước xuất khẩu lớn thứ 2 thế giới vừa được dự kiến sẽ tăng hơn 18% so với năm ngoái.

Cùng với đó, giá bông cũng giảm mạnh 4,51%, đẩy giá hiện tại về mức 88,37 cents, thấp nhất trong hơn 2 tháng qua.

thi truong hang hoa gia nguyen lieu giam manh ngay thu tu lien tiep

Đồng đô la Mỹ vẫn tiếp tục đà tăng khiến cho nhu cầu đối với bông Mỹ trở nên suy yếu. Bên cạnh đó, theo nhận định từ giới phân tích, các nhà máy dệt may tại khu vực Châu Á đang hoạt động chỉ với khoảng 50% công suất, điều này dẫn đến một khả năng là nhu cầu tiêu thụ bông đang ở mức thấp và có chiều hướng sụt giảm. Đây được xem là thông tin tiêu cực đối với giá, nhất là trong bối cảnh nguồn cung vẫn cho thấy những tín hiệu tích cực nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi.

Ở chiều ngược lại, điểm sáng trên bảng giá thuộc về cà phê Arabica với mức tăng 1,52%. Ở đầu phiên giao dịch, giá cà phê đã ghi nhận mức tăng rất ấn tượng khi các nhà đầu tư trên thị trường giữ nguyên vị thế mua ròng giống như trong báo cáo của Uỷ ban Giao dịch Hàng hóa tương lai trong tuần trước.

Tuy nhiên, đến phiên tối, giá mặt hàng này đảo chiều giảm mạnh khi đồng đô la Mỹ lấy lại xu hướng tăng và duy trì đến hết phiên. Dù vậy, nhờ lực tăng mạnh ban đầu, giá cà phê Arabica vẫn đóng cửa trong sắc xanh.

Giá cà phê trong nước đồng loạt giảm

Trên thị trường nội địa, ghi nhận trong sáng nay, giá cà phê nhân xô tại Tây Nguyên và các tỉnh Nam Bộ được thu mua trong khoảng 46.800 - 47.400 đồng/kg, quay đầu giảm 500 đồng/kg sau ngày giao dịch đi ngang trước đó.

Như vậy, giá cà phê trong nước liên tục suy yếu sau khi thiết lập mức đỉnh trong năm nay vào hồi đầu tháng 8, đã có thời điểm, giá thu mua cà phê đã tiến sát mốc 51.000 đồng/kg.

Mặc dù đã có sự suy yếu, tuy nhiên so với đầu năm nay, giá cà phê nội địa hiện vẫn tăng mạnh gần 20%.

thi truong hang hoa gia nguyen lieu giam manh ngay thu tu lien tiep

PL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900