Thị trường vàng 28/6: Giảm trong phiên đầu tuần

09:25 | 28/06/2021

Sáng nay, vàng giảm giá sau khi đã tăng gần 1% tuần trước - tuần tăng trở lại sau nhiều tuần giảm trước đó.

thi truong vang 286 giam trong phien dau tuan Giá vàng tuần tới: Kỳ vọng trở lại trên ngưỡng 1.800 USD/oz
thi truong vang 286 giam trong phien dau tuan Thị trường vàng ngày 25/6: Triển vọng dài hạn của giá vàng vẫn tích cực
thi truong vang 286 giam trong phien dau tuan

Tính đến 9h sáng nay (28/6) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 9,5 USD/oz (-0,53%) so với cuối phiên trước, xuống mức 1.772 USD/oz, giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.770,2 - 1.783,4 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng Tám giảm 4,2 USD/oz (-0,34%) so với cuối phiên trước, hiện niêm yết ở mức 1.772,6 USD/oz.

Giá vàng đã liên tục biến động trong biên độ hẹp sau những phát biểu trái chiều từ các quan chức của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Mặc dù giao dịch ngay sát ngưỡng 1.800 USD/oz trong tuần qua nhưng giá vàng vẫn chưa thể đột phá ngưỡng cản quan trọng này. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia vẫn đặt niềm tin kim loại quý màu vàng sẽ có thể đột phá ngưỡng 1.800 USD/oz trong tuần này để lấy động lực tăng tiếp.

thi truong vang 286 giam trong phien dau tuan

Theo khảo sát về giá vàng tuần này của Kitco, trong số 13 chuyên gia tham gia khảo sát có 53,8% lạc quan về giá vàng trong tuần; trong khi quan điểm giảm giá và trung lập mỗi bên chiếm 23,1%.

Với 839 người tham gia khảo sát trực tuyến, 54,1% ý kiến cho rằng vàng sẽ tăng giá trong tuần này; trong khi 24,2% ý kiến cho rằng giá giảm và 21,7% ý kiến còn lại trung lập.

Các chuyên gia cho rằng, biến động hiện nay của thị trường vàng chủ yếu xoay quanh những động thái của Fed.

"Vàng tiếp tục phục hồi và nó phải đột phá mức 1.795,60 USD/oz", chiến lược gia thị trường trưởng Phillip Streible của Blue Line Futures nói với Kitco News.

"Trước đó, vàng đã bị bán tháo quá mức, nhưng điều này đã mang lại cho rất nhiều người cơ hội tốt để có thể tham gia vào thị trường. Mọi sự chú ý đều đổ dồn vào kỳ vọng lạm phát cao hơn của Fed và khả năng hai lần tăng lãi suất sớm nhất là vào năm 2023", ông nói.

Tuy nhiên, Phillip Streible cũng cho rằng những hành động sắp tới của Fed có thể sẽ không như những gì họ đã nói. Fed đã đưa ra quan điểm diều hâu hơn sau cuộc họp và nhiều thành viên của Fed đã nhắc lại quan điểm này. Tuy nhiên, Chủ tịch Fed đã có những phát biểu ôn hòa và xoa dịu thị trường hơn ngay sau đó.

"Trên thực tế, để đạt được mục tiêu toàn dụng lao động của Fed sẽ phải mất nhiều thời gian hơn và tôi không nghĩ họ có thể tăng hai lần lãi suất vào năm 2023", ông nhận định.

Bart Melek, người đứng đầu chiến lược toàn cầu của TD Securities, cho biết nhiều khả năng vàng có thể bị mắc kẹt quanh mức 1.790 USD/oz nếu không có bất ngờ nào về dữ liệu kinh tế.

Nỗi lo lạm phát tăng cao khiến Fed sớm thắt chặt chính sách tiền tệ đã vơi dần, khi chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) mới được công bố cho thấy mức tăng thấp hơn dự báo và chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 gần như đi ngang. Điều này phần nào hỗ trợ vàng hồi phục nhẹ vào tuần trước.

"Nếu sau này lạm phát không phải là vấn đề đáng lo ngại, Fed có thể rút lại dự định tăng lãi suất vào năm 2023", ông Melek nói và dự báo rằng mức kháng cự tiếp theo của vàng sẽ ở khoảng 1,818 USD/oz và sau đó là 1,833 USD/oz, trong khi mức hỗ trợ là 1,775 USD/oz.

Mặc dù được kỳ vọng tăng trở lại trong tuần này, tuy nhiên một số chuyên gia cho rằng giá vàng vẫn còn rủi ro giảm giá.

Jim Wyckoff, nhà phân tích thị trường cấp cao của Kitco, cho rằng giá vàng có thể sẽ giảm trong tuần bởi áp lực bán. Ông chỉ ra rằng tín hiệu giảm giá đã xuất hiện trên biểu đồ thanh hàng ngày. Và trong hai tuần qua, vàng đã giảm xuống dưới một số mức hỗ trợ quan trọng và hình thành ngưỡng cản khó có thể vượt qua.

Chủ tịch Kevin Grady của Phoenix Futures và Options LLC thì cho rằng giá vàng sẽ ổn định xung quanh các mức giá hiện nay. Nhưng đồng thời sẽ rất khó để tăng giá.

"Một dấu hiệu giảm giá là vàng không phản ứng với thỏa thuận đạt được của Tổng thống Mỹ Joe Biden về kế hoạch cơ sở hạ tầng trị giá 579 tỷ USD, được cho là sẽ tạo ra hàng triệu việc làm", Grady lưu ý thêm.

thi truong vang 286 giam trong phien dau tuan

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 56,55 - 57,05 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở giá mua vào và giảm 50 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 56,55 - 57,07 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở giá mua vào và giảm 50 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP.HCM và Hà Nội cùng niêm yết ở mức 56,50 - 57,70 triệu đồng/lượng, giữ nguyên gia mua vào và giảm 50 nghìn đồng/lượng ở giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.648 22.868 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.910 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.100
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
49.900
50.900