Thị trường vàng sáng 26/9: Tiếp đà giảm

08:44 | 26/09/2022

Sáng nay, giá vàng tiếp đà giảm của tuần trước trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) diều hâu hơn đã khiến bạc xanh và lợi suất trái phiếu kho bạc tăng cao gây áp lực với kim loại quý này.

thi truong vang sang 269 tiep da giam Giá vàng tuần tới: Chật vật tìm kiếm động lực tăng giá
thi truong vang sang 269 tiep da giam Thị trường vàng sáng 23/9: Nhích nhẹ trở lại
thi truong vang sang 269 tiep da giam

Tính đến 8h sáng nay (26/9) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 2,4 USD (-0,15%) so với mở cửa xuống 1.642 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.627 - 1.646,9 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 12/2022 giảm 8,4 USD (-0,51%), hiện giao dịch quanh mức 1.647,2 USD/oz.

thi truong vang sang 269 tiep da giam

Chốt phiên cuối tuần trước, giá vàng giao ngay giảm 1,7%, trong khi giá vàng tương lai giảm 1,6%.

Giá vàng đã chạm mức thấp nhất trong 2 năm rưỡi sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thể hiện quan điểm diều hâu hơn đã khiến bạc xanh và lợi suất trái phiếu kho bạc tăng cao gây sức ép lên kim loại quý này. Theo các chuyên gia phân tích, môi trường vĩ mô này có khả năng khiến nhiều nhà đầu tư rời bỏ vàng, nhưng cũng là cơ hội để mua vào.

Sau khi tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản lần thứ ba liên tiếp, Fed được dự đoán sẽ tiếp tục tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản một lần nữa vào tháng 11 và 50 điểm cơ bản vào tháng 12... để đưa lãi suất lên 4,4% vào cuối năm 2022 và lên 4,6% vào năm 2023.

"Chúng tôi đã chứng kiến ​​sự gia tăng đáng kể trong dự đoán của thị trường về triển vọng lãi suất trong năm tới. Đây là một sự khác biệt khá lớn so với một tháng trước và nó phù hợp với việc Fed đang quyết liệt hơn", giám đốc chiến lược thị trường hàng hóa toàn cầu của TD Securities, Bart Melek nói và thêm rằng: "Lãi suất thực đang tăng. Điều đó tác động tiêu cực đến vàng...".

Ngoài ra, các chuyên gia cho rằng việc Fed tiếp tục giữ quan điểm diều hâu sẽ hỗ trợ bạc xanh duy trì đà tăng trong một thời gian nữa, đây là một tin xấu đối với vàng.

"Có vẻ như đợt tăng này của bạc xanh vẫn chưa đạt đỉnh. Môi trường hiện tại có thể sẽ vẫn không ổn định. Kỳ vọng tăng lãi suất của Fed đang gia tăng. Chúng tôi sẽ không thấy điều đó giảm bớt cho đến khi chúng tôi thấy lạm phát giảm", chuyên gia phân tích thị trường cấp cao của OANDA, Edward Moya nói với Kitco News.

Vị này thêm rằng: "Vấn đề là chúng ta không thấy nền kinh tế suy yếu nhanh chóng, nếu điều đó xảy ra, đó là lúc bạc xanh đạt đỉnh và vàng sẽ quay trở lại".

Với việc chỉ số Dow Jones chạm mức thấp nhất trong năm vào thứ Sáu và dự báo còn nhiều biến động phía trước, vàng khó có thể chứng kiến ​​một đợt phục hồi mạnh mẽ trong ngắn hạn.

"Chúng tôi sẽ không vội mua vàng. Có những công cụ biến động thấp hiện đang mang lại lợi nhuận, điều đó đang lấy đi sự hấp dẫn của vàng", Moya nói thêm.

Vàng sẽ trở lại vị thế trú ẩn an toàn khi sự thèm muốn đối với cổ phiếu giảm dần. Nhưng trước khi điều đó xảy ra, nền kinh tế cần phải cho thấy sự chậm lại và lạm phát cần phải giảm tốc.

"Một khi chúng ta bắt đầu thấy lạm phát chuyển sang một mức độ "nhẹ nhàng" hơn, Fed có thể nhanh chóng xoay chiều chính sách. Nhưng điều đó khó có thể sớm xảy ra", Melek nói.

Rủi ro lớn đối với kim loại quý là giảm xuống dưới 1.600 USD/oz.

"Nếu giá vàng phá vỡ mức 1.600 USD/oz, thì 1.540 USD/oz sẽ là mục tiêu tiếp theo - nơi người mua vào sẽ xuất hiện", Moya nhận định.

Đồng quan điểm, Melek cũng cho rằng vàng có khả năng giảm xuống dưới 1.600 USD/oz.

"Sự biến động của vàng sẽ cao hơn trong tương lai. Khi sự biến động tăng lên, các lệnh ký quỹ cũng tăng lên và vị thế dài hạn không thể được mở rộng. Nếu các vị thế dài hạn không quay trở lại sẽ là môi trường khó khăn cho vàng", ông mô tả.

Trên góc độ tích cực, các chuyên gia lưu ý, giá vàng hiện nay là một điểm vào lệnh tuyệt vời cho người mua.

"Điều này làm cho giá vàng vật chất rẻ hơn. Đó là một cơ hội mua. Fed đã nhấn mạnh rằng họ có nhiệm vụ kép. Và khi lạm phát được kiểm soát, Fed có thể nhanh chóng xoay chiều chính sách vào năm 2023. Lãi suất thực sẽ bớt gây áp lực lên vàng. Tôi kỳ vọng vàng sẽ hoạt động tốt trong dài hạn", Melek nói.

Tuy nhiên, hiện tại, Melek cho rằng mức kháng cự của vàng đang ở 1.678 - 1.680 USD/oz và mức hỗ trợ ở quanh 1.580 USD/oz.

Trên góc độ kỹ thuật, chuyên gia phân tích tại nền tảng giao dịch trực tuyến OANDA, Craig Erlam cho rằng việc giá vàng phá vỡ ngưỡng hỗ trợ quan trọng 1.650 USD/oz cuối tuần trước cho thấy xu hướng giảm mạnh trong ngắn hạn.

Trong khi đó, Sunil Kumar Dixit, trưởng chiến lược kỹ thuật tại SKCharting cho rằng trong tuần này, phản ứng của các nhà đầu tư đối với mức giá 1.640 USD/oz sẽ rất quan trọng.

“Với việc vàng giao ngay phá vỡ ngưỡng 1.640 USD/oz, nó có thể giảm tiếp xuống 1.620 USD/oz hoặc thậm chí là 1.600 USD/oz", ông cảnh báo.

“Tuy nhiên, nếu chỉ số bạc xanh bắt đầu giảm từ 113 và hướng tới 104 thì vùng 1.620 - 1.600 của vàng có thể thu hút người mua. Nhưng 1.560 USD/oz - tương đương mức thoái lui Fib 50% của đợt tăng trước đó của vàng - là một điểm phục hồi và có thể đưa phe đánh lên trở lại mức cao gần đây”, ông nhận định.

Dixit kỳ vọng, miễn là giá vàng duy trì trên 1.640 USD/oz, sẽ có một sự phục hồi nhẹ về 1.655 - 1,665 USD/oz và khả năng giá được kéo lên 1.678 - 1.688 có vẻ khả thi.

Trong số 19 chuyên gia tham gia cuộc khảo sát vàng của Kitco News tuần này, có 10 chuyên gia, tương đương 53%, nói rằng họ lạc quan về vàng; 6 chuyên gia, tương đương 32%, cho biết giá sẽ giảm; trong khi 3 chuyên gia, tương đương 16%, cho biết họ trung lập với kim loại quý này.

thi truong vang sang 269 tiep da giam

Với 963 người tham gia các cuộc thăm dò trực tuyến, có 469 người, tương đương 49%, cho rằng vàng tăng giá; 341 người, tương đương 35%, dự đoán vàng sẽ giảm; trong khi 153 người còn lại, tương đương 16%, cho rằng giá đi ngang.

Ở thông tin khác, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust cuối tuần trước tiếp tục giảm mạnh 2,9 tấn vàng nắm giữ xuống còn 947,23 tấn.

thi truong vang sang 269 tiep da giam

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 65,80 - 66,60 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 65,80 - 66,62 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP.HCM được niêm yết tại 65,90 - 66,50 triệu đồng/lượng, không đổi so với phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng DOJI được niêm yết tại 65,75 - 66,50 triệu đồng/lượng, không đổi so với phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.624 24.854 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.654 24.854 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.635 24.855 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.854 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.854 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.698 24.854 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.692 24.852 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.854 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.854 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.600
Vàng SJC 5c
66.600
67.620
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750