Thị trường vàng sáng 5/10: Giảm trở lại sau loạt phiên tăng mạnh

08:41 | 05/10/2022

Sáng nay, giá vàng giảm nhẹ sau khi tăng mạnh ở phiên trước trong bối cảnh một số chuyên gia đang cảnh báo rằng, đà tăng giá của kim loại quý chỉ là tạm thời và xu hướng ngắn hạn của vàng chủ yếu sẽ phụ thuộc vào báo cáo việc làm được công bố vào thứ Sáu tuần này.

thi truong vang sang 510 giam tro lai sau loat phien tang manh Thị trường vàng sáng 4/10: Giảm nhẹ sau phiên tăng mạnh
thi truong vang sang 510 giam tro lai sau loat phien tang manh Thị trường vàng sáng 3/10: Khởi đầu tuần với nhiều triển vọng

Tính đến 8h sáng nay (5/10) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 3,1 USD (-0,18%) so với mở cửa xuống 1.723,9 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.697,9 - 1.731,3 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 12/2022 tăng 1,3 USD (+0,08%), hiện giao dịch quanh mức 1.731,8 USD/oz.

thi truong vang sang 510 giam tro lai sau loat phien tang manh

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay tăng 1,57% lên mức cao nhất kể từ ngày 13/9/2022, trong khi giá vàng tương lai tăng 1,9%.

Vàng tiếp tục tăng trong phiên hôm qua với triển vọng về kỹ thuật rất mạnh mẽ. Trong năm phiên giao dịch vừa qua, giá vàng đã chạm đáy ở mức xấp xỉ 1.621 USD/oz và rồi tăng hơn 100 USD/oz trong một thời gian ngắn.

Diễn biến ngược chiều, năm ngày trước bạc xanh đã đạt đỉnh và chạm mức cao nhất trong 20 năm. Tuy nhiên, sau đó nó liên tục giảm, hôm qua đã giảm 1,42%.

Theo các chuyên gia phân tích, sự đảo ngược giá của cả vàng và bạc xanh bắt đầu vào thứ Tư tuần trước là rất quan trọng.

Để đưa ra kết luận này, các chuyên gia đã sử dụng hai loại biểu đồ là biểu đồ ngắt ba dòng và biểu đồ Heinkin-Ashi. Cả hai loại biểu đồ này thường được sử dụng để xác định sức mạnh của xu hướng cũng như các điểm xoay hoặc các điểm đảo chiều.

Câu hỏi đặt ra hiện nay là nếu đã xác định đúng xu hướng đảo chiều đối với cả vàng và bạc xanh, thì mức kháng cự của vàng và hỗ trợ của bạc xanh sẽ ở đâu?

Để đạt được điều đó, các chuyên gia sử dụng hai kỹ thuật cơ bản là Fibonacci thoái lui và xác định các đỉnh và đáy trong quá khứ để chỉ ra các mức hỗ trợ hoặc kháng cự tiềm năng.

Các nghiên cứu kỹ thuật chỉ ra rằng mức kháng cự tiềm năng gần nhất của vàng vừa được vượt qua là 1.730,20 USD/oz dựa trên mức thoái lui Fib 23,6%. Trên mức giá đó, ngưỡng kháng cự tiếp theo được ghi nhận ở 1.796,70 USD/oz, dựa trên mức thoái lui Fib 38,2%, và tiếp đó là 1.825,10 USD/oz - mức cao nhất giữa tháng Tám.

Trong khi đó với xu hướng giảm của bạc xanh, mức hỗ trợ gần nhất được ghi nhận tại 109,979 điểm, tương đương mức thoái lui Fib 23,6%, tiếp đó là 107,056 điểm, tương đương mức thoái lui Fib 38,2% và cuối cùng là 104,693 điểm, tương đương mức thoái lui 50%.

Chuyên gia phân tích nghiên cứu cấp cao Lukman Otunuga của FXTM cho rằng, vàng đã có bước ngoặt kỹ thuật quan trọng sau sáu tháng giảm giá liên tiếp.

“Những đồn đoán trên thị trường về việc Fed có thể sẽ áp dụng một cách tiếp cận ít tích cực hơn về tăng lãi suất đã kích thích sự thèm muốn đối với vàng. Nhìn vào bức tranh kỹ thuật, sự bứt phá trên 1.700 USD/oz của vàng có thể mở ra cánh cửa hướng tới 1.724 USD/oz và 1.760 USD/oz. Nếu giá giảm trở lại dưới 1.700 USD/oz, các mức hỗ trợ quan trọng tiếp theo có thể được tìm thấy ở 1.680 USD/oz và 1.655 USD/oz".

Tuy nhiên, một số chuyên gia cảnh báo rằng đà tăng giá của kim loại quý chỉ là tạm thời.

"Vàng đang mất dần sự hỗ trợ và một lần nữa hướng xuống 1.580 USD/oz trong những tháng tới, khi Fed tiếp tục diều hâu và đưa lãi suất lên trên 4,5%", người đứng đầu chiến lược hàng hóa của TD Securities, Bart Melek nhận định.

Xu hướng ngắn hạn của vàng chủ yếu sẽ phụ thuộc vào báo cáo việc làm được công bố vào thứ Sáu tuần này. Số lượng việc làm được bổ sung của tháng Chín nếu cao hơn dự kiến ​​sẽ kích hoạt việc định giá lại kỳ vọng tăng lãi suất một cách diều hâu hơn của Fed và điều này sẽ đè nặng lên vàng.

“Thị trường đang định giá việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ nới lỏng một chút và đó là lí do tại sao bạn thấy vàng có xu hướng tăng trở lại”, chiến lược gia thị trường cấp cao tại RJO Futures Bob Haberkorn nói.

Tuy nhiên, “nếu dữ liệu việc làm được công bố vào cuối tuần yếu hơn dự kiến, vàng sẽ tăng giá. Nếu dữ liệu mạnh hơn kỳ vọng, thị trường cũng có thể hiểu rằng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất và vàng sẽ giảm”, vị này nhận định.

Ở thông tin khác, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust hôm qua đã mua vào 1,74 tấn vàng, nâng lượng vàng nắm giữ lên 944,63 tấn.

thi truong vang sang 510 giam tro lai sau loat phien tang manh

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 65,40 - 66,40 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 65,40 - 66,42 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP.HCM được niêm yết tại 65,30 - 66,30 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng DOJI được niêm yết tại 65,40 - 66,40 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900