Tiêu dùng, lạm phát chững lại thu hẹp cơ hội tăng lãi suất của Fed

10:33 | 13/08/2016

Doanh số bán lẻ tại Mỹ không tăng trong tháng 7, cộng thêm chỉ số giá sản xuất giảm đã làm mờ đi triển vọng kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng nhanh hơn trong quý 3 và thu hẹp cơ hội tăng lãi suất của Fed.

Người tiêu dùng Mỹ bất ngờ thắt chặt chi tiêu

Số liệu do Bộ Thương mại Mỹ công bố hôm qua (12/8) cho biết, doanh số bán lẻ tại Mỹ không thay đổi trong tháng 7 sau khi đã tăng 0,85 trong tháng 6 (theo số liệu điều chỉnh). Còn so với cùng kỳ, doanh số bán lẻ tháng 7 tăng 2,3%.

Nếu không tính xe ô tô, xăng dầu, vật liệu xây dựng và dịch vụ ăn uống, doanh số bán lẻ lõi cũng không thay đổi trong tháng 7 sau khi tăng 0,5% trong tháng Sáu.

Trong khi các nhà kinh tế dự báo, doanh số bán lẻ tổng thể và doanh số bán lẻ lõi tăng tương ứng là 0,4% và 0,3% trong tháng 7. Cơ sở cho dự báo này là những chuyển động tích cực của thị trường lao động Mỹ thời gian gần đây và chính yếu tố này khiến các nhà kinh tế tiếp tục dự báo bán lẻ tại Mỹ sẽ phục hồi trở lại vào tháng 8.

"Kinh tế Mỹ đã có 2 tháng tăng trưởng việc làm mạnh mẽ nên rất kỳ quặc khi chi tiêu tiêu dùng yếu" Steve Blitz, nhà kinh tế trưởng của M Science ở New York nói.

Một dữ liệu kinh tế quan trọng khác được công bố hôm thứ Sáu (12/8) đó là chỉ số giá sản xuất cũng ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong gần một năm vào tháng 7 trong bối cảnh chi phí dịch vụ và năng lượng giảm cho các dịch vụ và hàng hóa năng lượng.

Cụ thể, theo Bộ Lao động Mỹ, chỉ số giá sản xuất (PPI) giảm 0,4% trong tháng 7 sau khi đã tăng 0,5% trong tháng 6. Đây là lần suy giảm đầu tiên kể từ tháng 3 và là mức giảm lớn nhất kể từ tháng 9/2015. So với cùng kỳ PPI tháng 7 cũng giảm 0,2%, mức sụt giảm lớn nhất kể từ tháng 12/2105 sau khi đã tăng 0,3% trong Sáu.

Việc đồng USD mạnh và giá dầu giảm trở lại tiếp tục làm giảm áp lực lên giá cả, khiến lạm phát liên tục đứng ở dưới mức lạm phát mục tiêu 2%. Các quan chức Fed đã nhiều lần bày tỏ lo ngại về lạm phát thấp.

Sự nguội lạnh về chi tiêu tiêu dùng và lạm phát thuần khiến Fed khó có thể sớm tăng lãi suất mặc dù thị trường lao động mạnh mẽ hơn.

Theo Joel Naroff - nhà kinh tế của Naroff Economic Advisors, các thành viên Fed rất ngại đưa ra quyết định tăng lãi suất cho đến khi tăng trưởng kinh tế bền vững hơn và lạm phát cũng phải gần đạt hoặc cho thấy xu hướng tiến đến mức lạm phát mục tiêu mà Fed đã đề ra. Các số liêu kinh tế gần đây càng khiến Fed khó có thể sơm tăng lãi suất.

Hiện thị trường chỉ đặt cược một sơ hội 43% là Fed sẽ tăng lãi suất vào tháng 12/2016, giảm so với mức 47% trước khi các dữ liệu về bán lẻ và chỉ số giá sản xuất được công bố.

Anh Thư

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950