Triển vọng kinh doanh ngân hàng những tháng cuối năm

12:26 | 04/07/2022

Giới chuyên gia đánh giá, triển vọng ngành Ngân hàng trong giai đoạn tới chỉ ở mức trung tính và có sự phân hóa khá cao. Nhiều khả năng kết quả kinh doanh quý II và cả 6 tháng cuối năm có thể không được lạc quan như trước.

Kinh tế dần hồi phục, tăng trưởng tín dụng bắt nhịp khá tốt, tăng cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Tín dụng tính đến ngày 9/6/2022 tăng gần 8,2% so với thời điểm đầu năm và 17,1% so với cùng kỳ năm 2021. Theo đánh giá CTCK Vietcombank, tín dụng bán lẻ tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của tín dụng hệ thống ngân hàng Việt Nam. Theo thống kê tỷ trọng tín dụng bán lẻ các ngân hàng niêm yết đã tăng từ mức 31% năm 2015 lên mức 45% tổng dư nợ tại thời điểm cuối quý I/2022, trong đó các sản phẩm cho vay mua nhà, mua ô tô, tài chính tiêu dùng đều ghi nhận mức tăng tích cực.

trien vong kinh doanh ngan hang nhung thang cuoi nam
Kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng 6 tháng cuối năm không mấy lạc quan

Điểm sáng nữa trong hoạt động ngân hàng theo khảo sát của Vietnam Report từ các chuyên gia và ngân hàng, nhờ việc số hóa hoạt động, chỉ số chi phí trên thu nhập (CIR) của hầu hết các ngân hàng đã giảm đáng kể trong những năm gần đây. Đại dịch đã làm gia tăng tốc độ tương tác của khách hàng với các dịch vụ ngân hàng trực tuyến, góp phần làm giảm chi phí cố định của ngân hàng. Khảo sát của Vietnam Report cho thấy, trên 54% số ngân hàng dự báo CIR năm 2022 sẽ cải thiện so với năm 2021…

Song bên cạnh những mảng màu sáng, trong bức tranh toàn cảnh ngành Ngân hàng, những “mảng xám” cũng đã bắt đầu lộ diện. Trong báo cáo ngành Ngân hàng công bố mới đây, CTCK Yuanta Việt Nam dự báo lợi nhuận sau thuế của cổ đông 27 ngân hàng niêm yết trong quý II có thể tăng 36% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhưng, nếu so với quý liền trước thì giảm 9%. Lợi nhuận kỳ vọng giảm so với quý trước chủ yếu là do lợi nhuận quý I ngân hàng khá cao do có đóng góp từ những khoản thu nhập ngoài lãi bất thường. Yuanta ước tính thu nhập phí quý II tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó doanh thu bancassurance có thể thấp.

Lãnh đạo một ngân hàng thừa nhận, kinh doanh ngân hàng trong 6 tháng đầu năm không được như kỳ vọng. Hoạt động bán lẻ cũng bị ảnh hưởng do dịch bệnh. Một số kênh đầu tư mang lại nguồn thu ngoài lãi cho ngân hàng như đầu tư trái phiếu Chính phủ cũng giảm... Nhiều ngân hàng cho biết, lãi suất huy động tăng nhanh được xem là rủi ro của hoạt động ngân hàng và thu hẹp biên độ lãi ròng (NIM) của các ngân hàng trong thời gian qua và trong 6 tháng cuối năm. “Việc cải thiện NIM sẽ chậm lại, thậm chí giảm do các ngân hàng còn đang phải hỗ trợ lãi suất cho vay cho khách hàng trong bối cảnh hồi phục kinh tế sau dịch”, lãnh đạo một ngân hàng nhận định.

Tại báo cáo mới phát hành, Vietnam Report dẫn kết quả khảo sát các chuyên gia và ngân hàng cũng chỉ ra top 5 thách thức cho tăng trưởng ngành Ngân hàng trong năm 2022: nguy cơ rủi ro lạm phát; Nợ xấu gia tăng, tiềm ẩn rủi ro an toàn hệ thống; Thể chế pháp luật chưa hoàn thiện với các mô hình kinh doanh mới; Sự cạnh tranh trong các dự án chuyển đổi số và đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ; Và rủi ro công nghệ, tội phạm tài chính gia tăng. Theo Vietnam Report, phần lớn các rủi ro đều có xu hướng gia tăng so với năm trước, trong đó, rủi ro từ lạm phát cao, trở thành mối lo ngại hàng đầu. Điều này xuất phát từ bối cảnh lạm phát tại các nền kinh tế lớn trên thế giới đang ở mức cao kỷ lục buộc các ngân hàng trung ương phải tăng lãi suất.

Thống kê cho thấy, nợ xấu đang có xu hướng tăng khá mạnh. Do triển vọng về nợ xấu gia tăng vào năm 2022 nên từ cuối năm trước, phần lớn các ngân hàng đã tăng tỷ lệ dự phòng rủi ro để có nguồn hấp thụ nợ xấu. Xu hướng này tiếp tục được duy trì khi kết quả khảo sát của Vietnam Report chỉ ra rằng, 45,5% số ngân hàng dự kiến tiếp tục tăng trích lập dự phòng rủi ro; 36,4% số ngân hàng duy trì mức trích lập dự phòng rủi ro như năm trước; và chỉ có 18,2% giảm trích lập dự phòng rủi ro. Dù vậy, tốc độ tăng trưởng trích lập dự phòng chưa tương xứng với tốc độ tăng nợ xấu khiến tỷ lệ trích lập dự phòng bao nợ xấu của các ngân hàng trung bình giảm nhẹ từ 118% hồi đầu năm xuống còn 112% khi kết thúc quý I/2022. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu có thể sẽ tăng lên trong nửa cuối năm 2022, sau khi Thông tư 14 sẽ hết hiệu lực. Theo đó, việc tăng nguồn lực dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu của các ngân hàng lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Giới chuyên gia đánh giá, triển vọng ngành Ngân hàng trong giai đoạn tới chỉ ở mức trung tính và có sự phân hóa khá cao. Nhiều khả năng kết quả kinh doanh quý II và cả 6 tháng cuối năm có thể không được lạc quan như trước. Tổng giám đốc OCB Nguyễn Đình Tùng cho rằng, 6 tháng cuối năm không thể kỳ vọng một kết quả kinh doanh đột biến để bù đắp cho nửa đầu năm bởi những khó khăn ngân hàng phải đối mặt vẫn còn nhiều. Nhất là áp lực lạm phát, biến động kinh tế toàn cầu, căng thẳng chiến sự ngày càng tăng... Môi trường kinh doanh tại Việt Nam cũng không tránh khỏi ảnh hưởng của các yếu tố này. Khi môi trường kinh doanh không thuận lợi, doanh nghiệp khó khăn, ngành Ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên.

Dù kinh doanh ngân hàng được dự báo khó khăn hơn năm 2021, nhưng CTCK BSC kỳ vọng tốc độ tăng trưởng của ngành Ngân hàng trong năm 2022 là 36,4% nhờ kinh tế phục hồi sau dịch và mức nền lợi nhuận thấp hơn trong năm 2021. Trong đó, việc tập trung bán lẻ sẽ tiếp tục là mũi nhọn trong năm 2022 giúp các ngân hàng giảm thiểu rủi ro tập trung và NIM cao hơn so với các khách hàng lớn. Ngoài ra, sự phục hồi của nền kinh tế giúp tăng trưởng tín dụng cao, đặc biệt tập trung vào nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ và cá nhân với NIM cải thiện là yếu tố hỗ trợ tốt cho thu nhập của NHTM. Bên cạnh đó, thu nhập từ dịch vụ thanh toán được dự báo sẽ phục hồi cùng với việc nối lại thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại. Thị trường bancassurance dự báo sẽ tiếp tục sôi động và là động lực chính giúp thúc đẩy lợi nhuận của các ngân hàng. Khi hệ thống NHTM phát triển, thu nhập của các ngân hàng sẽ trở nên ít phụ thuộc hơn vào mảng cho vay và thu nhập từ dịch vụ sẽ đóng vai trò quan trọng như một động lực thúc đẩy lợi nhuận tăng trưởng trong tương lai.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.266 23.821 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.244 23.535 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.225 23.540 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.300
Vàng SJC 5c
66.300
67.320
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.400
53.000