Tỷ giá sáng 15/8: Tỷ giá trung tâm tăng trở lại

09:07 | 15/08/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h sáng nay (15/8), trong khi tỷ giá trung tâm đã tăng trở lại sau ba phiên giảm liên tiếp trước đó thì giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng ít biến động so với cuối phiên trước.

ty gia sang 158 ty gia trung tam tang tro lai Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 8-12/8
ty gia sang 158 ty gia trung tam tang tro lai Tỷ giá sáng 12/8: Tỷ giá trung tâm giảm phiên thứ ba liên tiếp

ty gia sang 158 ty gia trung tam tang tro lai

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.160 đồng, tăng 7 đồng so với phiên giao dịch trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã tăng trở lại sau ba phiên giảm liên tiếp với tổng mức giảm là 23 đồng.

ty gia sang 158 ty gia trung tam tang tro lai

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN trong sáng nay ở 22.550 VND/USD đối với giá mua vào và 23.400 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng ít biến động so với cuối phiên trước.

ty gia sang 158 ty gia trung tam tang tro lai

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.230 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.300 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.500 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.789VND/USD.

ty gia sang 158 ty gia trung tam tang tro lai

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt, cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 105,686 điểm, tăng 0,012 điểm (+0,01%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh nhích nhẹ, trong khi đô la Úc và New Zealand - đồng tiền nhạy cảm với rủi ro - đã rút khỏi mức cao nhất gần hai tháng so với đồng bạc xanh do dữ liệu gây thất vọng từ Trung Quốc - một đối tác thương mại quan trọng, trong khi đồng nhân dân tệ của Trung Quốc cũng suy yếu sau khi Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBOC) bất ngờ giảm lãi suất.

Bạc xanh tăng cao hơn khi các nhà đầu tư tiếp tục xem xét khả năng lạm phát của Mỹ có thể đã đạt đỉnh hay chưa, trong khi các nhà hoạch định chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), tiếp tục có những phát biểu mang tính diều hâu.

Đồng nhân dân tệ giảm xuống mức thấp nhất trong một tuần so với bạc xanh ở 6,7620 CNY/USD, khi PBOC bất ngờ cắt giảm các mức lãi suất chủ chốt. 

Đô la New Zealand sáng nay giảm 0,35% xuống 0,6425 USD từ mức cao nhất hôm kể từ ngày 8/6, đạt được hôm cuối tuần.

Trong khi đó, đô la Úc giảm nhẹ xuống 0,7118 USD, rời xa mức mức cao nhất kể từ ngày 10/6.

Sản lượng công nghiệp, doanh số bán lẻ và đầu tư tài sản cố định của Trung Quốc đều giảm so với ước tính của các nhà phân tích, do sự phục hồi sau các đợt phong tỏa COVID-19 bị chững lại.

Để hỗ trợ nền kinh tế, PBOC đã bất ngờ cắt giảm lãi suất chủ chốt lần thứ hai trong năm nay và rút một lượng tiền mặt khỏi hệ thống ngân hàng.

PBOC cho biết, họ cắt giảm lãi suất đối với 400 tỷ nhân dân tệ (59,33 tỷ USD) khoản vay cơ sở cho vay trung hạn (MLF) một năm đối với một số tổ chức tài chính từ 2,85% xuống 2,75%.

Bên cạnh đó, họ cũng đã bơm 2 tỷ nhân dân tệ thông qua các repos đảo ngược 7 ngày, trong khi cắt giảm lãi suất vay xuống còn 2,0% từ 2,1%.

“Bất chấp cảnh báo về rủi ro lạm phát và tình trạng thanh khoản không ổn định, nhưng rủi ro giảm giá do COVID-19 và xu hướng không mấy khả quan ở lĩnh vực bất động sản...  đã khiến PBOC phải cắt giảm lãi suất để kích cầu”, trưởng chiến lược gia về ngoại hối châu Á tại Mizuho Bank, Ken Cheung nói.

Dữ liệu của Mỹ hôm thứ Sáu cho thấy, giá nhập khẩu giảm đầu tiên trong bảy tháng, sau khi số liệu thống kê hồi đầu tuần cho thấy giá tiêu dùng và giá sản xuất cũng hạ nhiệt.

Điều đó đã thúc đẩy các nhà đầu tư hy vọng vào việc Fed sẽ ít quyết liệt hơn trong việc thắt chặt, mặc dù tiếp tục có những lời phát biểu mang tính diều hâu của của các nhà hoạch định chính sách của Fed.

Chủ tịch Fed Richmond, Thomas Barkin, nói với CNBC vào thứ Sáu rằng, ông muốn thấy lạm phát chạy về mức mục tiêu 2% của Fed trước khi ngừng tăng lãi suất, và "vẫn còn nhiều điều cần làm để đạt được mục tiêu này".

Các chuyên gia phân tích sẽ theo dõi biên bản cuộc họp gần đây nhất của Fed, dự kiến ​​được công bố vào thứ Tư, để có thêm manh mối về dự định của các nhà hoạch định chính sách, trong khi dữ liệu doanh số bán lẻ được công bố vào thứ Sáu sẽ cung cấp một số cái nhìn mới về sức khỏe của nền kinh tế.

Tapas Strickland, chuyên gia kinh tế thị trường tại Ngân hàng Quốc gia Australia, cho biết: “Suy đoán về một cuộc hạ cánh mềm ngày càng tăng, được hỗ trợ sau khi dữ liệu về lạm phát bớt áp lực hơn, điều này có thể cho phép Fed giảm bớt tốc độ tăng lãi suất”.

Tuy nhiên, biên bản này là cũng có thể là một rủi ro và "có thể đẩy lùi khái niệm xoay trục của Fed", Strickland nói.

Thị trường tiền tệ hiện dự báo 44,5% khả năng xảy ra đợt tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản vào cuộc họp tháng Chín.

Sáng nay, euro đi ngang ở 1,0259 USD, do châu Âu phải vật lộn với cuộc chiến ở Ukraine, săn tìm các nguồn năng lượng không phải của Nga và tác động đến nền kinh tế Đức từ lượng mưa giảm mạnh.

Trong khi đó, bảng Anh giảm 0,08% xuống 1,2130 USD.

Tuy nhiên, so với yên Nhật, bạc xanh sang nay giảm 0,16% xuống 133,21 trong bối cảnh lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ giảm.

ty gia sang 158 ty gia trung tam tang tro lai

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.565 23.845 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.545 23.845 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.830 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.530 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.585 23.960 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.520 23.990 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.450
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
50.950