Vì sao tour du lịch y tế vẫn khó bán?
| Du lịch khởi sắc tiếp thêm động lực tăng trưởng cho Đà Nẵng Du lịch kỳ nghỉ Quốc khánh 2/9: Điểm đến nào đang hút khách Việt? Việt Nam dần khẳng định vị thế trên bản đồ du lịch âm nhạc |
Nhu cầu lớn nhưng tour chưa hút khách
Theo thông tin được Bộ Y tế công bố khi xây dựng dự thảo Đề án, Việt Nam hiện có khoảng 300.000 lượt khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế mỗi năm, với tổng chi tiêu ước đạt 1-2 tỷ USD, bao gồm viện phí, lưu trú, đi lại và ăn uống.
![]() |
| Năng lực chuyên môn và trang thiết bị hiện đại là nền tảng để Việt Nam phát triển du lịch y tế. Ảnh minh họa |
Dù cho thấy quy mô thị trường đáng kể, con số này chưa đồng nghĩa toàn bộ là khách du lịch y tế theo nghĩa hẹp, bởi còn gồm người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và những người chủ động đến điều trị. Việc xác định đúng nhóm khách, doanh thu y tế trực tiếp và phần chi tiêu liên quan là điều kiện cần để lượng hóa thị trường sát thực tế.
Năng lực cung ứng là một lợi thế quan trọng. Năm 2025, cả nước có 2.107 bệnh viện, hơn 339.000 giường bệnh và trên 105.000 bác sĩ. Hệ thống y tế chuyên sâu gồm 103 bệnh viện, trong đó 13 bệnh viện ở cấp chuyên sâu kỹ thuật cao. Nhiều cơ sở đã làm chủ các kỹ thuật như phẫu thuật robot, ghép tạng, can thiệp tim mạch, điều trị ung thư và hỗ trợ sinh sản. Bên cạnh điều trị chuyên sâu, các dịch vụ nha khoa, khám sức khỏe, thẩm mỹ, phục hồi chức năng và y học cổ truyền có nhiều dư địa kết hợp với nghỉ dưỡng.
Du lịch y tế hiện chủ yếu tập trung tại các đô thị và trung tâm du lịch lớn. Theo số liệu từng được ngành du lịch công bố, TP. Hồ Chí Minh chiếm khoảng 40% lượng khách nước ngoài đến Việt Nam sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh; Hà Nội là một trung tâm quan trọng khác. Đà Nẵng, Huế và Khánh Hòa cũng đang phát triển sản phẩm dựa trên thế mạnh nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe và y học cổ truyền.
TP. Hồ Chí Minh đi sớm trong việc kết nối bệnh viện với doanh nghiệp lữ hành. Năm 2023, thành phố công bố 30 chương trình du lịch y tế, chăm sóc sức khỏe và xây dựng cẩm nang bằng sáu ngôn ngữ. Một số chương trình kết hợp nha khoa, khám sức khỏe hoặc y học cổ truyền với tham quan, ẩm thực. Các cơ sở y tế, doanh nghiệp lữ hành, khách sạn và nhà hàng cũng từng bước tham gia chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, số chương trình được công bố chưa đồng nghĩa đã hình thành dòng khách ổn định. Trong lĩnh vực nha khoa tại TP. Hồ Chí Minh, nhiều khách nước ngoài vẫn tự liên hệ phòng khám hoặc kết hợp điều trị trong chuyến về thăm gia đình. Một số sản phẩm mới dừng ở hình thức bán kèm, chẳng hạn tặng gói khám răng khi khách mua tour nghỉ dưỡng, nên chưa tạo được khác biệt rõ rệt so với việc khách tự đặt từng dịch vụ.
Ông Từ Như Anh Vũ, Giám đốc inbound Công ty Du lịch Hòa Bình, nhận định nếu chi phí qua lữ hành không rẻ hơn hoặc quy trình không thuận tiện hơn, khách vẫn chọn đến thẳng nha khoa. Muốn cạnh tranh, doanh nghiệp phải tạo được trải nghiệm toàn diện, thay vì chỉ ghép một dịch vụ khám, chữa bệnh vào lịch trình tham quan sẵn có.
Đây là sản phẩm khó tổ chức bởi liên quan đồng thời đến chuyên môn y khoa, an toàn người bệnh, pháp lý và trách nhiệm của nhiều bên. Doanh nghiệp lữ hành có thế mạnh thiết kế hành trình, còn cơ sở y tế chịu trách nhiệm về chẩn đoán, điều trị và theo dõi chuyên môn. Nếu thiếu quy trình phối hợp, cơ chế phân định trách nhiệm và cách chia sẻ lợi ích rõ ràng, tour trọn gói khó tạo niềm tin với khách quốc tế.
![]() |
| Việt Nam hiện có khoảng 300.000 lượt khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế mỗi năm. Ảnh minh họa |
Tour chỉ bán được khi các mắt xích cùng vào cuộc
Điểm nghẽn của du lịch y tế không nằm ở việc thiếu tên tour, mà ở khả năng tổ chức một hành trình thống nhất. Khách không chỉ cần một ca điều trị hoặc buổi khám, mà còn cần thông tin đáng tin cậy, tư vấn ban đầu, báo giá, đặt lịch, hỗ trợ nhập cảnh, đưa đón, phiên dịch, lưu trú và theo dõi sau khi trở về nước. Chỉ khi các khâu này được kết nối, sản phẩm mới tạo ra giá trị cao hơn so với việc khách tự đặt bệnh viện và khách sạn.
Trong khi đó, Việt Nam chưa có khung pháp lý chuyên biệt điều chỉnh toàn bộ chuỗi du lịch y tế. Các quy định liên quan hiện nằm trong pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh, du lịch, giá, xuất nhập cảnh, bảo hiểm và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Việt Nam cũng chưa có loại thị thực y tế riêng; cơ chế thanh toán với bảo hiểm quốc tế chưa phổ biến. Nhân lực phiên dịch y khoa, điều phối bảo hiểm và cơ chế xử lý tranh chấp có yếu tố nước ngoài vẫn là những mắt xích cần hoàn thiện.
Việc xúc tiến thành lập Hiệp hội Du lịch y tế Việt Nam được kỳ vọng tạo đầu mối liên kết giữa cơ quan quản lý, bệnh viện, doanh nghiệp lữ hành, bảo hiểm và các đơn vị dịch vụ. Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn đã đề nghị sớm hình thành Ban vận động, đồng thời nghiên cứu đưa nội dung thành lập Hiệp hội vào Đề án trình Chính phủ.
Theo Thứ trưởng Trần Văn Thuấn, Việt Nam có lợi thế về năng lực chuyên môn, nhiều kỹ thuật tiệm cận trình độ quốc tế, chi phí khám, chữa bệnh cạnh tranh và thời gian thực hiện một số dịch vụ tương đối nhanh. Nhưng để chuyển lợi thế thành sản phẩm có thể bán trên thị trường quốc tế, cần sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương, bệnh viện công lập, bệnh viện tư nhân và cộng đồng doanh nghiệp.
Dự thảo Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 bệnh viện đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, trong đó tối thiểu năm bệnh viện công lập; đồng thời đưa vào vận hành ít nhất 30 gói sản phẩm du lịch y tế được chuẩn hóa. Cổng thông tin du lịch y tế quốc gia đa ngôn ngữ và cơ sở dữ liệu liên quan dự kiến hoạt động từ năm 2028. Dự thảo cũng hướng tới doanh thu trực tiếp từ dịch vụ y tế khoảng 1 tỷ USD và tổng chi tiêu của khách cùng người đi kèm khoảng 2,5 tỷ USD vào năm 2030.
Ba mươi gói sản phẩm chuẩn hóa không nên được hiểu đơn giản là 30 tour có thêm dịch vụ khám, chữa bệnh. Mỗi gói cần xác định rõ cơ sở thực hiện, nhóm khách phù hợp, thời gian, chi phí, quyền lợi, kết quả kỳ vọng và phương án theo dõi sau điều trị. Thông tin phải được công bố minh bạch, đa ngôn ngữ; đầu mối tiếp nhận và xử lý sự cố cũng phải rõ ràng.
PGS.TS.BS. Phan Minh Hoàng, Giám đốc Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp TP. Hồ Chí Minh, cho rằng không nên phát triển các gói du lịch y tế theo hướng dàn trải. Việt Nam cần lựa chọn những lĩnh vực thực sự có chất lượng chuyên môn tốt, chi phí cạnh tranh và khả năng tạo khác biệt, sau đó chuẩn hóa thành một hành trình chăm sóc hoàn chỉnh.
Trong giai đoạn đầu, những dịch vụ có thể chủ động lên lịch như khám tầm soát, nha khoa, y học cổ truyền, phục hồi chức năng và chăm sóc người cao tuổi sẽ thuận lợi hơn để kết hợp với lưu trú, nghỉ dưỡng. Với điều trị chuyên sâu, sản phẩm phù hợp có thể là hành trình linh hoạt gồm tư vấn từ xa, đặt lịch bệnh viện, đưa đón, phiên dịch, bố trí nơi ở cho người đi cùng và kết nối bác sĩ sau khi khách trở về nước.
Mục tiêu doanh thu tỷ USD vì thế không chỉ phụ thuộc vào số bệnh viện hay kỹ thuật điều trị. Yếu tố quyết định là khả năng biến những dịch vụ đang tồn tại riêng lẻ thành một hành trình an toàn, minh bạch và thuận tiện. Khi tour tạo được giá trị rõ ràng về chi phí, thời gian, hỗ trợ chuyên môn và trải nghiệm, du lịch y tế mới có thể chuyển từ thị trường nhiều tiềm năng thành sản phẩm xuất khẩu dịch vụ có sức cạnh tranh.
Tin liên quan
Tin khác
Phòng, chống tác hại thuốc lá: Không để luật “chạy sau” thực tiễn
Ca đại phẫu kéo dài hơn 8 giờ giải cứu bệnh nhân mắc ung thư kép
Siết an toàn thực phẩm trường học từ nguồn cung đến khay cơm học sinh
“Kết nối trái tim” và hành trình 14 năm SACOMBANK trao giọt hồng sẻ chia sự sống
Bệnh viện Bạch Mai và Techcombank hợp tác xây dựng hệ sinh thái tài chính y tế
4 loại nước giải khát uống càng nhiều gan càng nhanh 'hỏng'
Phòng bệnh thay chữa bệnh - cuộc chuyển đổi lớn của y tế Việt Nam
Từ smart home đến healthy home: Xu hướng nhà thông minh đang thay đổi
40 tuổi đã phải chuẩn bị cho tuổi già: Chuyên gia chỉ ra "20 năm vàng" quyết định tương lai




