WB cảnh báo nguy cơ khủng hoảng nợ toàn cầu

08:00 | 13/01/2020

Ngân hàng Thế giới (WB) vừa cảnh báo về nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng nợ toàn cầu mới, đồng thời kêu gọi các chính phủ và ngân hàng trung ương cần nhận thức rằng lãi suất thấp trong lịch sử có thể không đủ để bù đắp một cuộc khủng hoảng tài chính khác.

Trong báo cáo bán niên về Triển vọng kinh tế toàn cầu (GEP) vừa được công bố hôm 8/1, tổ chức tài chính quốc tế có trụ sở tại Washington D.C. này cho biết, đã có bốn làn sóng tích lũy nợ trong 50 năm qua. Ba làn sóng tích lũy nợ toàn cầu đầu tiên được xác định là bắt đầu từ 1970-1989, 1990-2001 và 2002-2009. Tuy nhiên làn sóng hiện tại - bắt đầu từ năm 2010 - được cho là có “mức tăng lớn nhất, nhanh nhất và rộng nhất” trong vay mượn toàn cầu kể từ những năm 1970.

Theo đó, nợ toàn cầu đã tăng lên mức cao kỷ lục khoảng 230% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2018. Trong đó tổng nợ từ các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển đạt mức cao nhất mọi thời đại gần 170% GDP, tăng 54 điểm phần trăm của GDP kể từ năm 2010.

wb canh bao nguy co khung hoang no toan cau
Ảnh minh họa

WB cho biết, trong khi mức lãi suất thấp - mà thị trường tài chính được dự kiến sẽ duy trì trong trung hạn – “đã giảm thiểu một số rủi ro liên quan đến mức nợ cao”, ba làn sóng tích lũy nợ trên diện rộng trước đó đều kết thúc với khủng hoảng tài chính ở nhiều nền kinh tế đang phát triển và mới nổi.

“Lãi suất toàn cầu thấp chỉ cung cấp một sự bảo vệ bấp bênh trước các cuộc khủng hoảng tài chính”, Ayhan Kose – Trưởng bộ phận dự báo kinh tế của WB cho biết. “Lịch sử của các làn sóng tích lũy nợ trong quá khứ cho thấy những làn sóng này có xu hướng kết thúc không vui. Trong một môi trường toàn cầu mong manh, các cải tiến chính sách là rất quan trọng để giảm thiểu rủi ro liên quan đến làn sóng nợ hiện tại”.

Trung Quốc chiếm phần lớn trong quá trình tích lũy nợ này, một phần do quy mô của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, nhưng WB nhấn mạnh rằng việc tích lũy các khoản vay ngày càng lan rộng kể từ năm 2010.

Làn sóng tích lũy nợ toàn cầu thứ tư được phát hiện có nhiều điểm tương đồng với ba làn sóng trước đó: Bối cảnh tài chính toàn cầu đang thay đổi, tạo ra các lỗ hổng và lo ngại về việc sử dụng vốn vay không hiệu quả.

WB liệt kê một menu gồm bốn lựa chọn chính sách cho các quốc gia để giảm khả năng làn sóng nợ toàn cầu hiện nay kết thúc với khủng hoảng; còn nếu khủng hoảng xảy ra, các lựa chọn này sẽ làm giảm bớt tác động của chúng.

Đầu tiên, việc quản lý nợ hợp lý và minh bạch nợ sẽ giúp giảm chi phí vay mượn và ngăn chặn rủi ro tài chính. Thứ hai, khung tiền tệ, tỷ giá hối đoái và chính sách tài khóa mạnh mẽ có thể bảo vệ các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi trong một môi trường kinh tế mong manh. Thứ ba, siết chặt các quy định và giám sát khu vực tài chính để nhận biết và giải quyết các rủi ro mới phát sinh. Thứ tư, quản lý tài chính công hiệu quả và các chính sách thúc đẩy quản trị doanh nghiệp tốt có thể giúp nợ được sử dụng hiệu quả.

Cũng tại báo cáo này, WB đã nâng dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu lên 2,5% vào năm 2020, cao hơn so với mức 2,4% trong dự báo trước đó. Tuy nhiên, WB cảnh báo rủi ro suy giảm có khả năng vẫn tồn tại.

“Với sự tăng trưởng ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển có khả năng vẫn chậm chạp, các nhà hoạch định chính sách nên nắm bắt cơ hội để thực hiện cải cách cơ cấu nhằm thúc đẩy tăng trưởng trên diện rộng, đó là điều cần thiết để giảm nghèo”, bà Ceyla Pazarbasioglu - Phó chủ tịch Khối Tăng trưởng bình đẳng, tài chính và định chế của WB cho biết trong báo cáo. Theo bà, việc cải thiện môi trường kinh doanh, luật pháp, quản lý nợ và năng suất có thể giúp đạt được sự tăng trưởng bền vững.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Tags: WB Nợ

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250